Xu thế phát triển kiến trúc chung cư nhiều tầng và cao tầng trên thế giới (P2)

Trong ba thập kỷ từ 1960 đến 1990, những nguyên tắc “sinh – khí hậu” tối thiểu đều bị bỏ qua khi xây dựng. Sự phát triển dày đặc, tự phát trong các khu phố thòi kỳ đó không có gì minh họa rõ hơn hình ảnh của những quần thể lộn xộn, tôn kém chất lượng, làm nghèo môi sinh tự nhiên và môi trường văn hóa.
Từ những năm 1990 nhận thấy những bài học không thể sửa chữa được trong các khu phố đó với thẩm mỹ quan lệch lạc của loại kiến trúc dập khuôn phương Tây lấy kỹ thuật làm sức mạnh, Hồng Kông đã mạnh dạn đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của các nhà tháp (vẫn là loại nhà chủ lực trong thời kỳ mái bởi sự quá khan hiếm đất đai ỏ đây). Ví dụ như tổ hợp kiến trúc khu nhà tháp mối Shatin đã đưa ra những bố cục có lợi nhất cho khí hậu, ánh sáng cho từng khối nhà, gần như bị không chế bởi những độ cao như nhau (đã giảm nhiều so vói trưốc): các nhà tháp nằm xung quanh sân vườn rộng gồm vườn cây xanh để đi dạo, các công trình dịch vụ thấp tầng, các cánh nhà được mở ra với sân trời để hưỏng không khí trong lành. Tôi thiểu là quy hoạch này cũng bảo đảm những nguyên tắc cơ bản nhất: chiếu sáng và thông thoáng tự nhiên phù hợp với khí hậu nhiệt đới nóng gay gắt. Tuy nhiên phải thấy rằng bản thân từng khôi tháp vẫn chưa được chú ý xử lý tốt về hiíớng gió, nắng chủ đạo.
Các bố cục chia khôi hình chữ Y, chữ thập dường như bất châ’p hướng nắng, gió đã nói lên sự phụ thuộc vào máy điều hòa. Chính những đặc điểm này cũng tạo nên quy hoạch mặt đứng rất khó chấp nhận, mà người dân Malaysia hầu như đã quá nhàm chán (chủ nghĩa quôc tế) vì không hợp vối cả khí hậu lẫn văn hóa địa phương.
Trưổc tình hình đó, từ năm 1980 trở về đây, tiến sĩ kiến trúc sư Ken Yeang (Malaysia) và công ty của ông phấn đấu không mệt mỏi để duy trì việc thiết kê các nhà ỏ cao tầng trên cơ sỏ nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ giữa kiến trúc và sinh thái. Trong điều kiện phát triển kinh tế nhanh chóng của xã hội Malaysia, các tòa nhà cao tầng chiếm một vai trò quan trọng trong cơ cấu đô thị. Ong đã tìm đến cấu trúc nhạy cảm vối khí hậu và văn hóa truyền thông thông qua hơn 200 chi tiết kiến trúc, mà theo ông, đóng vai trò quan trọng trong môi liên hệ mật thiết của nhà cao tầng vói môi trưòng nhiệt đới nóng ẩm. Đó là một thành công không nhỏ. Kiến trúc sinh thái theo ông phải “tính đến những ảnh hưởng sâu rộng đôi khi có hại là quá trình đô thị hóa tác động rất xấu vào môi trưòng thiên nhiên. Kiến trúc sinh thái phải được phát triển không chỉ để bảo đảm sự bảo tồn những gì cần để lại,mà còn phải bảo đảm sự tồn tại lâu dài của sinh quyển VÀ hành tinh như một tổng thể hài hòa”. Cũng
có phần giông như ở Việt Nam về đặc trưng nóng ẩm (tính ẩm có phần gay gắt hơn), nhà ở nông dân truyền thông của Malaysia thường dùng các bức tường như bộ phận trợ giúp cho việc thông hơi thoáng gió, các kiểu mái tranh, mái đan bằng tre nứa chống chói và lọc bức xạ;và đó chính là những yếu tô’ đem lại cảm hứng trong sáng tác kiến trúc của ông. Ông đã nghiên cứu lý thuyết và đưa ra các giải pháp kiến trúc nhà cao tầng có khả năng tác động qua lại giữa kiến trúc vói môi trường xung quanh, nhờ vào sự xác định hướng gió, nắng, các kiểu mái hắt, các cách thông gió tự nhiên … tất cả được khái quát hóa thành các sơ đồ đơn giản, dễ hiểu. Những tổng kết đó đã được áp dụng với những biến thể mở rộng vào các giải pháp kiến trúc có tính “sinh – khí hậu” của các nhà tháp ở Malaysia. Sự thử nghiệm đầu tiên chính là ngôi nhà “mái chồng mái” mà ông tự xây dựng cho mình năm 1983. Quan niệm thiết kế của ông là coi nó như một hệ thông rào chắn (bằng hệ thông tường như những tấm lọc môi trường) bao quanh không gian sử dụng bên trong, tạo cho ngôi nhà như một tê bào sông trong khung cảnh thiên nhiên bao chứa nó. Các không gian chính quay ra hưóng Bắc – Nam, các phòng khách và sinh hoạt còn mở rộng về phía Đông để quay ra bế bơi nhằm đón luồng gió Đông Nam đã được làm mát bởi hơi nưốc,đã làm thay đổi vi khí hậu trong các phòng khách lớn.
Các tấm tường lốn được thiết kế như một hệ thông rèm trượt, panen đặc, panen kính, cửa chớp lật (được phân chia làm nhiều lớp có thể di chuyển cơ động linh hoạt) được dùng để điều khiển vi khí hậu theo sự thay đổi tương ứng của môi trường vĩ mô.
Độc đáo nhất là ngôi nhà có thêm bôn lớp mái “kiểu đan phên” truyền thống, nhưng được đổ liền khối bằng lốp bêtông cốt thép, phủ lên toàn bộ mái bằng vói các sân, hiên, bể bơi phía dưới. Ý tưởng của tác giả muôn dùng mái phụ đó để lợi dụng các yếu tô’ có lợi như tăng độ mát của làn gió thổi qua bể bơi tới các tầng nhà.
Từ ngôi nhá đầu tiên đó, những năm về sau ông đã thành công trong sự nghiệp thiết kế nhà cao tầng ở vùng nhiệt đới nóng ẩm vái hàng loạt các nhà tháp: trung tâm thương mại IBM, nhà tháp quảng trường Atrium, nhà tháp Menara Mesiniaga, trung tâm thương mại Central, văn phòng Budaya … (Kuala Lumpur) và sô lổn các nhà cao tầng ở Trung Quốc. Năm 1989 ngôi nhà 15 tầng Menara Mesiniaga đưa vào sử dụng đã khẳng định những nguyên tắc thiết kế của Yeang về kiến trúc sinh – khí hậu và đã được coi như một mẫu mực phát triển đúng đắn của kiến trúc cao tầng Đông Nam Á (theo đánh giá của phương Tây). Ngoài việc đặt hưóng nhà sao cho các phòng sử dụng đón được hướng gió tốt (Nam, Đông Nam), các khu vệ sinh và thang nằm ỏ góc Đông và Tây, ông còn tiến thêm một bưốc trong ý đồ thiết kê’ khi tạo lập một
môi truoiig sinh thái tự nhiên (như một phần của tổng thể địa phương) bao quanh ngôi nhà. Những phần luôn đựợc che nắng bởi bóng đổ của ngôi nhà đã khuyến khích đời sống tự nhiên phong phú của hệ động vật địa phương phát triển. Ngôi nhà cũng sừ dụng một loạt các giải pháp truyền thống khi xử lý các khoảng sân tròi bán mái trong các tầng, cấu tạo lớp tường kép bằng tấm cách nhiệt ở huống Đông và Tây, sáng tạo mái đan phên chống bức xạ có thể tự di động theo đưòng mặt trời … Các điều kiện khí hậu lý tưởng đạt được trong các phòng sử dụng không cần đến hệ thống điều liòa đã khiến ngôi nhà này được coi là “Mô hình của chủ nghĩa hiện đại nhiệt đới đáng tin cậy về mặt môi trường” (Clifford – nhà bình luận kiến trúc người Anh).