Kiến trúc phản ánh xã hội, mang tính tư tưởng

kiến trúc bao hàm ý nghĩa rộng lớn vừa là sản phẩm văn hoá, vừa là kết quả của sự can thiệp tác động của con người nhằm tạo những môi trường sống thích nghi phù hợp với đặc thù hoạt động xã hội. Là văn hoá, kiến trúc không thể thoát ly những điều kiện ảnh hưởng và phát sinh của môi cảnh nó ra đời. Bất kỳ vật gì con người tạo ra trong quá trình tiến hoá lịch sử của minh đều có khả năng nói lên rất nhiều điều về cuộc sống và

hoàn cảnh sống của xã hội và con người. Tuy nhiên, tác phẩm kiến trúc luôn tạo nên một hình tượng khái quát, súc tích về một xã hội nhất định qua từng giai đoạn lịch sử. Đến một nước nào đó trên thế giới, dù đi qua những làng quê với những ngôi nhà nhỏ đơn sơ hoặc tới những thành phố với hệ thống các công trình kiến trúc đồ sộ, phong phú khách du lịch đều xem đó là một trong nhiều phương diện để nhận thức được về:
– Điều kiện kinh tế – khoa học kỹ thuật của xã hội.
– Trình độ văn minh, đặc thù văn hóa lịch sử của xã hội.
– Cơ cấu tổ chức, hành chính luật pháp của đất nước.
– Lối sống, phong tục tập quán của dân tộc.
– Phương thức sản xuất và khai thác nguồn nguyên liệu xây dựng của xã hội…
Vì vậy nền kiến trúc của mỗi nước luôn luôn phản ánh khá rõ bộ mặt chung về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của xã hội ứng với từng thời kỳ lịch sử (hình 1.7).
Mặt khác, trong lịch sử phát triển xã hội, mỗi chế độ đều có ảnh hưởng đến nội dung và hình thức của kiến trúc: kiến trúc của chê độ nô lệ khác với kiến trúc chê độ phong kiến, kiến trúc của chế độ tư bản có những đặc thù không giống với kiến trúc của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ở xã hội có giai cấp, do nhu cầu quyền lợi kinh tế, quyền lực của từng đẳng cấp cần được phân hóa mà các giai cấp thống trị thường có hệ tư tưởng chủ đạo. Tư tưởng đó có ảnh hưởng định hướng chi phối suy nghĩ, ý tưởng sáng tác của kiến trúc sư, công trình sư hay nghệ nhân. Cho nên kiến trúc bao giờ cũng mang tính tư tưởng và tính giai cấp rõ rệt.
Ví dụ: dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ quan lại thống trị xã hội, muốn củng cố địa vị của mình, đã đề ra các luật lệ, trong đó có cả luật lệ xây dựng nhà ở, nơi làm việc để có những lầu son gác tía, lâu đài, cung điện lộng lẫy, xa hoa cho mình. Còn kiến trúc của dân nghèo bị bóc lột khi làm nhà thì mái không được cao quá vai kiệu người đi tuần. Chính vì vậy mà có kiến trúc kiểu thành quách được bố phòng kỹ trên một lãnh địa riêng của vua chúa, quan lại, địa chủ. Mặt khác, giai cấp thống trị còn dùng tôn giáo làm vũ khí tư tưởng để củng cố đặc quyền nên đã cho xây dựng nhà thờ, đình, chùa, đền, miếu với phong cách kiến trúc đồ sộ, thiêng liêng, thần bí, uy nghi lấn át con người để lấy đó làm vũ khí trấn áp thống trị con người lao động trong xã hội, tạo tâm lý an phận, phục tùng (hình 1.5, 1.6).
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, kiến trúc cũng phản ánh rõ rệt sự đối lập giai cấp. Kiến trúc phục vụ giai cấp tư bản với những dinh thự, lâu đài, công sở, nhà bãng, cửa hàng khang trang, đồ sộ, các nhà chọc trời nguy nga tráng lệ với nội thất cầu kỳ, trang trí xa hoa, phô trương lộng lẫy, với trang bị tiện nghi thừa thãi, lãng phí. Còn kiến trúc của người dân lao động là những khu “nhà ổ chuột” tối tăm với trang thiết bị quá nghèo nàn và tạm bợ đầy tương phản và bất công.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, các nước có nền dân chủ tiến bộ, sự phân biệt giai cấp hầu như không còn rõ rệt, kiến trúc trở thành tài sản chung của xã hội, là phúc lợi của

toàn dân để phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Mặc dù kiến trúc xã hội tiến bộ nói chung vẫn là phong phú, đa dạng theo đặc điểm, tính chất, cấp loại của công trình, song luôn thể hiện tính dân chủ, sự quan tâm của Nhà nước, của chế độ đối với con người để bảo đảm sự phát triển tương đối bình đẳng, toàn diện cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đồng đều về mặt vật chất, vãn hóa và tinh thần.