Định nghĩa kiến trúc và ba yếu tố tạo thành kiến trúc (P2)

2. Sự hoàn thiện kỹ thuật trong kiến trúc
Sự hoàn thiện kỹ thuật trong kiến trúc là muốn đề cập đến điều kiện vật chất – kỹ thuật, đến giải pháp kổ’t cấu kỹ thuật xây dựng, từ lựa chọn vật liệu xây dựng, các hình thức và phương pháp tính toán “kết cấu”, đến phương thức thực hiện xây dựng, biến những ý tưởng tổ chức không gian – hình khối phục vụ công năng, thành công trình cụ thể, thành ngôi nhà, công trình hay một công viên, một thành phố…

Hình 1.1. Kiến trúc xuất hiện dưới dạng nguyên thuỷ.

Hình 1.2. Yếu tố công năng thay đổi theo sự phát triển của xã hội.

Khác với bài thơ, bài hát, bức tranh, bức tượng người nghệ sĩ có thể “vật chất hoá” mà không đòi hỏi phương tiện và thời gian tốn kém, nhưng kiến trúc muốn hoàn thiện từ ý đồ đến bản vẽ thiết kế chưa đủ mà cần phải được “vật chất hoá” bằng nhiều phương tiện và công sức mà thường cá nhân nghệ sĩ sáng tạo không tự thực hiện nổi: vật liệu xây dựng tạo nên kết cấu, vỏ bao che và qua quá trình “xây dựng- thi công” mới hình thành không gian hình khối, mới có điều kiện để diễn ra bên trong đó các quá trình công năng thích dụng mang hiệu quả kinh tế – xã hội và nghệ thuật (hình 1.3, 1.4).
Nói cách khác, không có hoàn thiện kỹ thuật sẽ không có kiến trúc. Khoa học và kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực ngày nay đã thực sự tiếp tay cho các kiến trúc sư sáng tạo và hoàn thiện những đứa con sản phẩm của mình. Con người bằng những “hoàn thiện kỹ thuật” đã có thể thực hiện bất kỳ ý tưởng hay hình thức kiến trúc nào. Kiến trúc hiện đại càng ngày càng trong sáng, tối giản đến thuần khiết, hoàn thiện ở mức kỹ thuật cao, bên cạnh sức truyền cảm của nghệ thuật tạo hình kiến trúc đà có thêm sức biểu hiện nghệ thuật tự thân từ sự hoàn thiện hoàn mỹ kỹ thuật này, khiến cho hiện nay ranh giới kiến trúc sư – công trình sư tác giả rất khó phân biệt trong những công trình kiến trúc có giá trị. Thời kỳ các kỹ sư kết cấu làm chủ nhiệm đồ án, đảm đương nhiệm vụ sáng tác của kiến trúc sư, của nghệ sĩ điêu khắc, thâm nhập hẳn vào quá trình sáng tạo nghệ thuật như trong các bộ môn “nghệ thuật tạo hình”, đã thể hiện rõ ở các nước có nền công nghiệp kiến trúc cao, nền xây dựng “hậu công nghiệp”, với văn minh tin học (hình 1.3, 1.4).
Kiến trúc sư ngày nay muốn có những tác phẩm tốt vì thế không thể thiếu những hiểu biết nhất định về các vật liệu xây dụng có hiệu quả, về khoa học liên quan đến môi sinh, môi cảnh, về văn hoá – xã hội, về phỏng sinh học (bionic) và công thái học (ergonomie), về các phương pháp tính toán, cấu tạo, về các giải pháp kết cấu tiên tiến, hiệu quả, về các phương pháp kỹ thuật công nghệ thi công xây dựng hiện đại, kinh tế, v.v…
Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ năng suất cao ở các thập kỷ cuối thế kỷ XX đã làm tăng sức mạnh của con người lên gấp hàng triệu lần và đã đẩy mạnh nhịp độ và quy mô xây dựng- kiến trúc, mặt khác lại đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi sinh, phá vỡ cân bằng sinh thái, thay đổi khí hậu toàn cầu, đang huỷ diệt tính đa dạng sinh học của hành tinh chúng ta. Kiến trúc chỉ có thể tồn tại bền vững, phát huy tác dụng tốt trên cơ sở môi trường được bảo vệ, được phát triển bền vững, được khai thác có hiệu quả tối đa với sự thiệt hại tối thiểu cho sự cân bằng sinh thái khu vực và toàn cầu.
.3. Yếu tô hình tượng kiến trúc
Nói đến hình tượng kiến trúc tức muốn nói đến hiệu quả tình cảm, tinh thần, hiệu quả nghệ thuật và mỹ cảm do kiến trúc mang lại. Hình tượng kiến trúc được tạo nên từ tổ chức không gian bên trong đến bóng dáng hình khối bên ngoài của công trình, nghĩa là từ các hình thức có sự hài hoà cân đối, từ sức truyền cảm của các mảng, các đường nét, các màu sắc chất liệu của từng bộ phận chí tiết cũng như của sự bố cục sắp xếp các đơn vị đó trong tổng thể hay còn gọi là sự “tổ hợp” của các chi tiết này bảo đảm tính thống nhất hữu cơ của một tổng thể phong phú đa dạng mà mọi người có thể cảm nhận được từ khổng gian bên trong (nội thất) đến hình khối và không gian bên ngoài (ngoại thất), tức là có một sự hoàn chỉnh trọn vẹn khó có thể bớt xén một phần nào mà không làm xàm hại đến hiệu quả chung. Đứng trước một công trình kiến trúc, bằng hình tượng nghệ thuật của nó, kiến trúc có thể gây cho chúng ta một cảm giác hay ấn tượng nhất định: công trình thì hoành tráng, hùng vĩ, trang nghiêm (tượng đài, lăng mộ, toà nhà quốc hội, toà án…), công trình thì sinh động, bay bướm, tươi trẻ (câu lạc bộ, nhà văn hoá thanh niên, …), có kiến trúc khi nhẹ nhàng thanh thoát, khi nặng nể u ám, cái thì hài hoà cân xứng, cái thì lộn xộn, vô tổ chức xâm hại cảnh quan. Có kiến trúc biểu hiện tính nghiêm túc, sự ổn định vững chãi nhưng cũng có kiến trúc mang rõ nét nghịch ngợm phóng túng (fantaisie) hay động thái, có sự bay bổng hay vươn cao… (hình 1.5).
Tất cả những ấn tượng trên, có thể có hiệu quả tốt hoặc xấu, đều là kết quả tất yếu của hình tượng nghệ thuật, yếu tố có ảnh hướng quyết định đến thẩm mỹ kiến trúc và chức nãng giáo dục tư tưởng, xây dựng tinh cảm cho con người và xã hội.
Hình tượng nghệ thuật rõ ràng không chỉ đạt được sự bắt mắt, cái đẹp cân xứng hài hoà tức tạo ra khoái cảm cho sự chiêm ngưỡng những hình khối bên ngoài, mà còn có thể từ những ấn tượng mỹ cảm biểu hiện trong giải pháp tổ chức không gian nội thất, ngoại thất: sự trang trọng, tính hợp lý khoa học, sự rành mạch trong sáng của dây chuyển công năng, của lôgic kết cấu, của tính trật tự và hoàn thiện cao của từng chi tiết.
Hình tượng kiến trúc thường tạo nên cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu lành mạnh, hướng tới cái cao cả (chân, thiện, mỹ) mang tính khái quát cao, tính điển hình hướng thiện và ẩn dụ vốn Jà đặc thù của ngôn ngữ kiến trúc – ngôn ngữ của loại hình “nghệ thuật biểu hiện” (như múa, âm nhạc, kiến trúc…).
Tất nhiên hiệu quả hình tượng kiến trúc còn tuỳ thuộc vào tài năng của tác giả, vào trình độ thụ cảm và thị hiếu quần chúng và nhất là lý tưởng thẩm mỹ của xã hội.
Hình tượng kiến trúc tất nhiên không đòi hỏi như nhau ở các thể loại công trình và cũng sẽ phát triển cùng với đời sống vật chất, văn hoá của xã hội, phụ thuộc vào trình độ dân trí của quần chúng nhân dân.
Các công trình công cộng lớn, các kiến trúc văn hoá tưởng niệm thường đòi hỏi biểu cảm cao hơn kiến trúc công nghiệp, kiến trúc nhà ớ. Nhưng nói chung đã là kiến trúc thì phải có hình tượng nghệ thuật vì kiến trúc chí được sáng tạo và hình thành trên nguyên lắc cái đẹp, tuân thú các quy luật tạo hình nghệ thuật. Hình tượng kiến trúc tốt chỉ có thể là con đé của những kiến trúc sư – nghệ sĩ có tâm hồn, luôn gắn bó mình với cuộc sống, với sự nghiệp của nhân dân, của dân tộc, để có được những tình cảm lớn ngang tầm thời dại, đế có được cá tính độc đáo trong bản lĩnh khám phá và thủ pháp hành nghề – sáng tạo, dứng dắn.

Để tạo nên hình tượng tốt cho kiến trúc, kiến trúc có những nguyên tắc và quy luật vĩnh cửu về hình thái học và thẩm mỹ học. Vì một nền kiến trúc đương đại vững bền, các nguyên tắc này cần được xem xét trong các mối quan hệ tổng hoà và đan xen qua lại.
– Hình thức phục vụ công năng.
– Hình thức phù hợp vật liệu – kết cấu và công nghệ xây dựng.
– Hình thức tôn trọng bối cảnh (cảnh quan sinh thái).
– Hình thức phù hợp truyền thống văn hoá, ý thức hệ xã hội và lối sống.
– Hình thức tôn trọng cá tính – phong cách riêng và tính độc đáo của tác giả.
Cái hài hoà hay cái đẹp trong kiến trúc không phải là năng lượng tự nhiên, mà là năng lượng của nội lực tâm hồn và chỉ có thể lĩnh hội được bởi con người năng động và sáng tạo. Một tác phẩm kiến trúc chân chính bao giờ cũng phản đối sự tầm thường thông tục, nó bao giờ cũng là độc nhất vô nhị, mang bản sắc và tâm hồn riêng của người cha đẻ cũng giống như bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào.