Các phòng phụ trong nhà công cộng (P3)

Phòng máy chiếu phim
Phải đặt ở vị trí đối diện vối sân khấu và màn ảnh, mỗi máy chiêu cần một diện tích khoảng 7 – 8m2. Phòng tối thiểu cũng phải cớ hai máy chiêu.
Nguyên nhân cháy trong các rạp chiếu bóng thường xuất phát từ phòng máy chiếu cho nên 11Ó không được mở cửa trựGtiếp ra liành lang hoặc phòng chờ; bắt buộc phải mở cửa ra một phộp^ưọni có hai ỉản cửa có thê chịu lửa hơn một giờ và từ đó có thể thôn? vc*i phòng cuộn lại phim. Găn liền vói khôi phòng chiếu phim còn có p&òng thuyết minh (có cửa sô quan sát được phòng khán giả và màn ảnh) <*£t hợp với phòng truyền thanh 15 – 20m2 cần ở cạnh phòng máy chiếu.

Khối vệ sinh nhà công cộng
Thông thường chỉ cộ chỗ vệ sinh không có chỗ tắm, trừ trường hợp ở các công trình thể thao. Khôi vệ sinh này phải được thiết kế tách ròi thành hai khu vực nam và nữ. Khi sắp xếp phân bố các khối vệ sinh phải bảo đảm đều đặn trên các tầng, khôi 11Ọ chồng lên khối kia và từ phòng làm việc, sử dụng chính đến bất kỳ một khôi vệ sinh nào cũng không được quá 60m. Thông thường các khôi vệ sinh hay được bố trí gần khu cửa vào, quanh các nút giao thông chỗ tập trung các hành lang hoặc ở quanh các hành lang nghỉ, các phòng bách bộ của các hội trường, các phòng khán giả. Để hảo đảm các khối vệ sinh không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh thì khu vệ sinh thường đặt sau một âu cách ly (phòng đệm) vói tốt nhất hai lần cửa. Tại phòng đệm này, người ta thường bố trí các chậu rửa tay. máy sấy khô, gương soi, mắc áo. Tùy theo tính chất quan trọng và quy mô sức chứa mà phòng đệm này có thể có diện tích 6 – 15m2. Khi thiết kê các khốỉ vệ sinh cần bảo đảm yêu cầu kín đáo nhưng cũng phải dễ tìm.
Khổĩ vệ sinh trong các công trình hành chính, trường học, các loại tương tự (các công trình không sử dụng tập trung theo giờ cao điểm, không đông đảo quần chúng sử dụng trong thòi gian ngắn) được thiết kế theo tiêu chuẩn: 40 4- 50 người/1 chỗ vệ sinh và 100 người/1 vòi rửa tay và chỗ tiểu. Một khối buồng vệ sinh kể cả lối đi diện tích 3,5 – 4,5m2. Trong khối vệ sinh nữ, không thiết kê chỗ tiểu riêng biệt, nhưng trong các khôi vệ sinh nam, cần phân biệt chỗ đại tiện và tiểu tiện, cửa phòng xí có vách ngân kín nên làm cánh mở ra ngoài.
Tường vây quanh âu cách ly thường là tường cao đên sát trần. Vách lửng ngăn che giữa các phòng cá nhân cần cao vượt đầu người. Khi thiết kê khối vệ sinh, để bảo đảm mỹ quan cần có biện pháp che dấu ngụy trang các điíòng ống cấp thoát nước từ tầng nọ xuốìig tầng kia.
Các khối vệ sinh nhà công cộng bình thường được thiêt kê phục vụ 50% nữ và 50% nam, trừ trường hợp đối vối các nhà ga và các công trình thể thao là 70% nam, 30% nữ. Trong các trường học thường phải chú ý tách biệt khối vệ sinh riêng cho giáo viên. Khôi vệ sinh nhà công cộng có thể lấy ánh sáng gián tiếp hoặc nhân tạo nhưng hên trong kìõì vệ sinh cần có trang bị các lỗ hút cơ khí dể dổi mới vă trao đổi iĩh’*ufc khí giữa i rong và ngoài. Các cửa đi và cửa sổ khối vệ sinh cần phải dùng kính 1T1Ờ tạo I?ươc sự kín đáo cần thiết cho các phòng. Vối các công trình sử dụng cho đông đHa quần chúng và sử dụng tập trung trong một thời điểm ngắn (những giờ cao điềm) như nhà thi đấu, phòng khán giả, sân vận động, có thể tham khảo tiêu chuẩn sau:
– 175 4-100 nam khán giả/1 chỗ đại tiện và 2 4- 3 chỗ tiểu. -150 nữ/ 1 chỗ đại tiểu tiện kết hợp.
– 350 khán giả/1 vòi rửa tay trong âu cách ly.
Vối các phòng khán giả có sức chứa hơn 1000 chỗ, cửa vào khôi vệ sinh nam và nữ nên cách nhau trên 4m.
Khối vệ sinh của khu phục vụ vận động viên thể thao có một số yêu cầu riêng: khi thiết kể khối vệ sinh phục vụ vận động viên thể thao trước tiên phải theo một dây chuyền nghiêm ngặt về mặt trình tự:

Phải bảo đảm nguyên tắc khi thay xong quần áo thể thao thì không thể tiếp xúc trực tiếp với khách và vận động viên chưa thay quần áo. Việc thay quần áo của vận động viên có thể được thực hiện trong cabin riêng hay trong phòng chung (kiểu tập thể) (h.II.2.29). Các phòng tắm là thành phần mới của khối vệ sinh.
Khối tắm trong khu vệ sinh của vận động viên thường thiết kế theo kiểu tắm hương sen tập thể. Các cửa lấy ánh sáng cho khôi vệ sinh phục vụ vận động viên phải đặt cao trên tầm mắt.
Trong công trình bể bơi khu phục vụ vận động viên hay phục vụ khách bơi cần được tính toán với tiêu chuẩn cứ 5m2 mặt nước cần một chỗ phục vụ (hoặc cứ một dải bơi là có 10 người cùng bơi). Trong các gian thi đấu lổn khả năng phục vụ này cần bảo đảm được đồng thời 20 – 40 vận động viên hoặc hai đội đấu luân phiên.