Yêu cầu tổ chức thiết bị kỹ thuật tiện nghi sinh hoạt trong chung cư cao tầng

Hệ thống cấp nước cho nhà cao tầng

Cấp nước cho nhà cao tầng phải bảo đảm nguyên tắc cấp nước an toàn tức là đầy đủ về lưu lượng và áp lực trong mọi thời gian. Tránh tình trạng ngày bơm một vài lần sẽ ảnh hưởng rất lón đến sinh hoạt của dân cư sống trong các nhà cao tầng đó. Để giải quyết vấn đề này triíớc hết phải nghiên cứu sơ đồ mạng lưới cấp nước.
Thông thường hệ thống cấp nưốc nhà cao tầng được thực thi theo nguyên tắc: bơm đặt ở tầng hầm, két nước đặt ở trên mái, ông phân phôi có thể từ trên mái xuống hoặc từ diíới lên. Nếu bố trí đường ổng phân phôi chính ở phía trên (tức là bơm lên két rồi từ két phân phối xuống các tầng) thì có dạng ở trên to, ở dưối nhỏ và dung tích két nước lớn. Ngược lại nếu bố trí đường ống phân phổi chính ở dưới và dẫn nước lên các tầng, đường ông lên két và phân phôi xuống phía dưới chung thì ống cấp nước có điều kiện nlxư nhau. Vấn để đặt ra là phải xét đến áp lực cấp nước ở các tầng. Theo nguyên lý cấp nước trên thì áp lực ỏ tầng một và tầng trên cùng cách nhau rất lớn. Ví dụ: nhà 10 tầng áp lực tầng dưới là 45 – õOm, nhà 15 tầng áp lực là 70 – 80m, nhà 20 tầng áp lực là 90-100m. Điểu đó dẫn đến là phải có được lực dư để bảo đảm áp lực do các tầng lấy nước là tương đương nhau. Nếu áp lực tự do quá lớn sẽ gây ra khó khăn cho người sử dụng như nước quá mạnh, tung tóe ra xung quanh và khó điều chỉnh nước ở vòi nóng lạnh, gây tiếng ồn ào khi sử dụng.
Có hai cách khắc phục áp lực nước cao giữa các tầng như sau:
• Đôi với ống phân phôi ố trên xuống phải đặt van giảm áp. Cứ 4-6 tầng dặt một van giảm áp để bảo đảm giảm áp lực nưốc giữa các tấng.
• Phân khu cấp nước, cứ 4-6 tầng làm một khu cấp nước có hệ thông hoạt động độc lập với nhau.
Sau đây là một số hệ thống sơ đồ cấp nước cho nhà cao tầng
Sơ đồ cấp nước phân vùng song song
Phân chia sô tầng ra các vùng khác nhau để áp lực đồng đều cho các vùng, mỗi vùng 4-6 tầng. Độ chênh lệch áp lực giữa các tầng không lớn lắm, không cán khử áp lực dư. Trên mỗi tầng phải có két nưổc để bảo đảm cấp nước cho tầng trên cùng, máy bơm đặt ở dưới. Nếu ở trên các vùng không có điều kiện đặt két nước thì phải bô’ trí két nước áp lực. Bơm và két nước đặt trong tầng hầm.
Sơ đồ cấp nước phân vùng nối tiếp
Theo sơ đồ này, nhà cao tầng cũng chia ra các vùng khác nhau, mỗi vùng 4-6 tầng. Tại mỗi vùng có đặt máy bơm riêng, áp lực máy bơm tương ứng cho yêu cầu cấp nước của mỗi vung. Nguyên tắc làm việc của máy bơm là lưu lượng bơm vùng một cấp nước cho vùng một và các vùng trên, còn áp lực phải đủ cấp nước cho vùng một. Bơm vùng hai cấp nước cho vùng hai và các vùng trên, áp lực tương ứng đủ cho vùng hai. Như vậy mỗi vùng có một két nước, két nước ngoài việc dự trữ cho bản thân vừng cũng đủ thể tích dự trữ cho các vùng trên.
Sơ đồ cấp nước không phân vùng
Theo sơ đồ này, thiết bị và bơm nưóc đặt ỏ tầng hầm, ống phân phối chính đặt ở phía trên hoặc phía dưói. Để bảo đảm áp lực đều ở các thiết bị dùng nước, cứ 4-6 tầng phải đặt một van giảm áp. Trường hợp máy bơm đặt ở dưới, két nưốc đặt ở trên mái thì hai tầng trên cùng phải có thiết bị cấp nước cục bộ bằng két nước áp lực, còn các tầng dưới lấy nưốc từ két nước trên mái. Trong trường hợp trên mái không đặt được két nước thì thiết bị tăng áp và bơm đặt ở tầng hầm và cứ 4-6 tầng phải đặt một van giảm áp để bảo đảm áp lực đồng đều giữa các tầng.
Sơ đồ cấp nước chữa cháy
Yêu cầu chữa cháy đôi vối nhà cao tầng cũng phải đặt ra đúng mức để bảo đảm an toàn cho người sinh sông trong các công trình và bảo vệ công trình trong các trường hợp có cháy, về nguyên tắc thì phải bảo đảm đầy đủ về lưu lượng và áp lực để dập tắt đám cháy có thể xảy ra ở điểm bất lợi trong mọi
thòi gian. Do đó sơ đồ cấp nước chữa cháy phải được bố trí sao cho đầy đủ số ổng đứng và các hộp chữa cháy để dập tắt đám cháy có thể xảy ra ở tất cả các nơi trong nhà cao tầng.
Hệ thống cấp nước chữa cháy trong nhà cao tầng phải thiết kế hệ thống riêng, không kết hợp với hệ thôhg cấp nước sinh hoạt, có máy bơm đủ lưu lượng và áp lực để dập tắt đám cháy. Ngoài ra trong nhà cao tầng còn phải thiết kê hệ thốhg chữa cháy tự động cho những kho, phòng cần thiết có yêu cầu chữa cháy cao. Song song với việc thiết kế hệ thống chữa cháy còn phải lắp hệ thống báo cháy để theo dõi chung về an toàn phòng cháy.

Hệ thống thoát nưỏc cho nhà cao tầng
Trong kiến trúc cao tầng, do đưòng ông đứng thoát nước bẩn lớn và dài, nối tiếp các thiết bị vệ sinh và đường ống nhiều nên một bộ phận đường ống đứng có thể bị tắc và hỏng các mối nối vối thiết bị vệ sinh, có thể gây ra rò rỉ, cho nên đối vối hệ thống thoát nước của kiến trúc cao tầng cần phải có đường ống thông hơi. Phòng máy bơm có chấn động và tiêng ồn do đó phải hết sức cô gắng đặt nó ỏ dưối tầng hầm hoặc ỏ tầng dưối. Mỗi hệ thông máy bơm có không ít hơn hai máy, có một máy dự phòng. Mỗi phòng máy bơm đặt tối thiểu là bốn cái, trong đó hai máy dùng để bơm Iiưốc sinh hoật, hai máy dùng để bơm nước chữa cháy. Chung quanh máy bơm phải bố trí rãnh thoát nưóc và giếng tập trung nước. Trong phòng máy bơm phải bô’ trí két nưóc hoặc bể nưốc trung chuyển. Những bể nưốc đặt ở tầng hầm hoặc tầng dưới đa phần được làm bằng bêtông cốt thép.

Nguồn điện
Nguồn điện trong kiến trúc cao tầng nói chung và nhà cao tầng nói riêng trừ nguồn điện thường dùng thì phải có nguồn điện dự phòng. Tác dụng của nguồn điện dự phòng là khi nguồn điện thường dùng có sự cô’ ngừng hoạt động thì máy dự phòng có thể cấp điện để chiếu sáng an toàn, vận hành thang máy. Nguồn điện dự phòng nên lấy từ một nguồn cung ứng điện khác.

Bộ phận chống sét
Việc sét đánh và gây cháy đối với nhà cao tầng tăng bình phương vối độ cao do đó trong nhà cao tầng cần phải có biện pháp chông sét cần thiết.