Thiết kế các phòng quần chúng sử dụng (P1)

Chọn hình thức mặt cắt dọc khán phòng
Điều kiện nhìn rõ và điều kiện âm thanh có quyết định rất lân đến hình thức mặt cắt dọc của phòng khán giả: cụ thể là với dạng nền dốc và hình thức trần (độ cao phòng). Nền dốc phải bảo đảm để mọi chỗ ngồi đều nhìn rõ mục tiêu quan sát nghĩa là tia nhìn của khán giả cần luôn luôn vượt qua đầu người ngồi trước để bao quát được toàn bộ đối tượng và phải nằm trong những góc khống chê mặt bằng, mặt cắt cho phép, để tránh được những vị trí quá lệch chéo(hình ảnh thu nhận bị biến dạng). Mặt khác các chỗ ngồi đều phải nằm trong khoảng xa nhất cho phép.
Chọn hình thức trần phải lưu ý đến điều kiện âm phản xạ, nhất là ở những phòng có sức chứa lốn. Đặc biệt là đại bộ phận âm phản xạ lần đầu cần phải đến được những vùng khán giả ngồi xa hoặc những vị trí trên mặt bằng không có tia âm phản xạ (đến từ các tường bên).
Góc giao nhau giữa trần và mặt tường phía sau nên tạo thành góc vét tròn hoặc nghiêng, nghĩa là không nên để góc vuông nhằm tránh hiện tượng tiếng dội, đồng thời lại có thể tăng cường được âm phản xạ cho vùng chỗ ngồi phía dưối gần đó. Nếu do yêu cầu kiến trúc không cho phép làm góc nghiêng thì phải phủ vật liệu hút âm cao (h.II.2.8).
Cần lưu ý rằng, trong những phòng lổn, nếu tường sau xử lý hút âm quá nhiều, kliu vực chỗ ngồi dưối ban công sẽ nhận được mức âm không đủ. Khu vực bố trứhợp lý vật liệu hút âm có thể tham khảo ở hình II.2.8.
Ban công không nên quá sâu, ban công sâu hay nông ảnh hưởng rất lốn đến độ âm vang và cường độ âm dưới ban công. Ban công quá sâu, mức âm dưới ban công sẽ rất yếu, tốt nhất tỷ lệ LỊH < 2. Nếu tỷ lệ L/H > 2 thì phải tính không gian dưới ban công như một không gian riêng mà muôn ngẫu hợp với phòng khán giả lại rất phức tạp (h.II.2.9).
Chiều cao h cuối phòng nên trong khoảng 2,3 đến 2,4m là tối thiểu.
Trần ban công nên thiết kế thành một mặt phản xạ âm, nghiêng ra phía trước nhằm đưa âm phản xạ hắt xuống vùng khán giả theo cùng hưóng tia phản xạ từ trần xuông vùng này (h.II.2.9).
Độ cao của phòng khán giả sẽ quyết định đến khối tích chung của cả phòng và có ảnh hưỏng tỷ lệ thuận vối thời gian âm vang (thòi gian càng lớn thì nghe âm vang du dương nghĩa là có chất lượng âm phong phú nhưng nếu quá lớn thì sẽ gây hiện tượng tiếng dội rất khó nghe). Thời gian âm vang nhỏ thì tiêng bị trần trụi,cộc lốc,nhưng lại nghe rõ, rất cần cho những phòng như hội trường, giảng đưòng hoặc rạp chiếu bóng. Thời gian âm vang tốt nhất ứng với âm tần số 500hz là một hàm sô’ lôgarít của thể tích V.

 

trong đó có thế tham khảo như sau:
Phòng hòa nhạc, ca vũ kịch K – 0,41.
Phòng kịch nói K = 0,36.
Chiếu bóng, hội trường K = 0,29.
Thòi gian âm vang tô’t nhất lại được quy đụih tùy theo khôi tích V của phòng và tần sô’ của âm như trên bảng ỏ hình 2.8. cần phù hợp với thời gian âm vang thực tê của phòng
Ttt – 0,163 V/A (A là tổng lượng hút âm của phòng).
Chiều cao trung bình, của phòng cụ thể nên tham khảo tỷ lệ hợp lý có lợi về mặt âm thanh theo quan hệ giữa ba chiều rộng, dài, cao của phòng (R, D, H).
Ví dụ: Trong rạp chiếu bóng: R = (0, 5 + 0,8)2}.
#=(0,4 + 0,5)12.
Trong nhà hát: H : R : D – 1 : 1,5 : (2 + 2,5).
Hoặc dựa trên chỉ tiêu khối tích riêng quy định cho các loại hoạt động biểu diễn để xác định thể tích hợp lý của phòng:
• Vối nhà hát ôpêra, các phòng hòa nhạc giao hưởng: 7 + 8m3/ngưòi.
• Vổi nhà hát kịch nói, chèo, cải lương, tuồng, rạp chiếu bóng:
• 5,5 + 6,5m3/ngưòi.
• Với giảng đường, hội trường, chủ yếu là nghe nói chuyện, hội họp: 4,5 + 5,5m3/người.
• Những gian thể thao lớn được tính > 12ms/người.
Như vậy từ sức chứa và chỉ tiêu khối tích có thể tính ra thể tích của phòng. Biết thể tích và diện tích, ta có thể suy ra được chiều cao hợp lý của gian phòng (nhưng nói chung không nên cao quá 8m).
Về mặt nhìn rõ ảnh hưởng đến dạng kiểu nền phòng kết hợp với yêu cầu âm thanh, chúng ta có thể gặp các dạng nền và trần phòng khán giả như sau: