Thiết kế các phòng chính (P2)

Phòng sinh hoạt nhóm cho nhà văn hóa, câu lạc bộ
Trong các câu lạc bộ và nhà văn hóa thường có hai khu vực chính (h.II.2.5):
• Khu vực biểu diễn: bao gồm khối phòng khán giả và sân khấu; khôi sảnh bán vé – giải lao sẽ được nghiên cứu riêng.
• Khu vực sinh hoạt nhóm: với các lớp học, xưởng thực tập cho nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau như hội họa, văn học, điêu khắc, kịch, hát, mô hình máy bay, vô tuyến điện và tin học… Đây là những phòng có kích thước trung bình thường từ 24 đến 80m2. Kiên trúc của các phòng này tương tự như các lốp học, phòng thí nghiệm vối các thiêt bị chủ yếu là bàn ghế. Tuy nhiên diện tích các phòng tùy thuộc vào đặc tính hoạt động của nhóm (có nhóm chỉ một thầy và vài ba học sinh như nhóm diêu khắc, học hát – luyện thanh, học đàn… , có những lóp cần phiên chế từ 15 đến 30 học sinh như các lốp văn học, vẽ, học kịch, phòng đồng ca, hợp xướng…). Vì vậy khi thiết kế kiến trúc sư phải biết được sô’ người có thể sinh hoạt đồng thời trong không gian đó và tham khảo chỉ tiêu diện tích quy định cho những loại hoạt động này (h.II.2.6).
Một sô’chỉ tiêu:
– Các phòng sinh hoạt có tính chất yên tĩnh: l,7m2/chỗ (lốp về văn học, gia chánh…)
– Các phòng kỹ thuật và xưỏng (xưởng mô hình, phòng vô tuyến điện, phòng học quay phim chụp ảnh…): 2m2/chỗ.
– Các phòng hợp xưống, tập hòa tấu dàn nhạc: l,5m2/chỗ, có thể cho 30 -40 nhạc công cùng tập một lúc.
– Các phòng sinh hoạt kịch nói: 2m2/chỗ.
– Các phòng học hát, đàn, học thủ công mỹ nghệ: 6m2/chỗ, một phòng chỉ có 2 – 3 người.
– Các xưởng vẽ, nặn: 2m2/chỗ.
– Các phòng đọc sách, thư viện: l,5m2/chỗ.
– Phòng hội thảo nhóm hay tiếp khách câu lạc bộ: 1,5 – 2m2/chỗ.
– Các giảng đường cạnh thư viện (chỗ các nhà văn, nhà thơ gặp gỡ bạn đọc, trình bày tác phẩm…): l,5mz/chỗ, một phòng có từ 80 đến 120 chỗ.
– Các phòng trò chơi trên mặt bàn, giải trí: bi-a, bóng bàn, cờ tưống, trò chơi điện tử…: 2m2/chỗ.
– Phòng giải khát của câu lạc bộ: 1,3 – l,5m2/chỗ.
Như vậy các phòng sinh hoạt nhóm thông thường có diện tích trung bình từ 30; 40 – 60 đến 80m2 (h.Il.2.6). Độ sâu của phòng thường 5,4 – 6,4m. Các bưốc gian của phòng là 3,6 – 4,5m. Chiều cao thông thủy là 3,2 – 4,2m tùy theo diện tích và tính chất hoạt động. Các phòng sinh hoạt có tính chất yên tĩnh và biệt lập thưồng được sắp xêp dọc theo các hành lang. Các phòng sinh hoạt vui chơi giải trí ồn ào mà sự cách ly và riêng tư của từng không gian hoạt động không đòi hỏi chặt chẽ, người ta có thể tổ chức hợp nhóm theo kiểu xuyên phòng, không gian lưu thông liên hoàn. Người sử dụng có thể len lách qua các không gian phong phú đầy sự bất ngờ. tạo được không khí sinh hoạt thoải mái và hứng thú, gây tò mò và dễ hòa nhập.
Các phòng sinh hoạt nhóm có diện tích nhỏ hơn 50m2 chỉ cần mở một cửa ra vào rộng 1 – l,2m. Những phòng có diện tích lớn hơn 60m2 có thể làm hai cửa (h.II.2.1, h.II.2.3, h.II.2.6).
Khốỉ thư viện, giảng đường cần tách thành một khôi độc lập để bảo đảm được sự yên tĩnh; nghĩa là nên tập trung nó vào cuối hành lang, ở một cánh nhà biệt lập, hoặc ở tầng trên cùng của khối cao tầng để khi cần đến sinh hoạt ở các phòng khác không phải đi xuyên qua nó. Phòng đọc của thư viện cần bảo đảm có đủ chỗ cho 25 – 40 người sử dụng đồng thời. Kho sách của thư viện được thiết kế cho khoảng 15000 – 50000 quyển và cứ 400 quyển được một diện tích kho là lm2. Khi thiết kê phòng đọc sách cần bảo đảm dây chuyền sao cho người thủ thư luôn có thể quán xuyến, theo dõi được khách trong phòng đọc và để người đọc , mượn sách khi ra về buộc phải qua chồ thủ thư. Phòng cho mượn thường được thiết kê 10 – 20m2 bô” trí giữa phòng đọc và kho. (h.II.2.6).