Phân loại kiến trúc (P1)

I. Vê chất lượng sử dụng công trình
Chất lượng sử dụng công trình thường thể hiện ở các mặt sau đây:
1. Thành phần phòng trong công trình (hoàn chỉnh, không hoàn chỉnh hay tối thiểu), các tiêu chuẩn về diện tích, chiều cao và khối tích có ích của các phòng đó.
2. Đặc điểm và mức độ tiện nghi của các phòng trong công trình thể hiện ớ các tiêu chuẩn về chiếu sáng tự nhiên, chiếu sáng nhân tạo, điều kiện âm thanh (nghe rõ, nghe hay, cách âm tốt v.v…), điều kiện nhìn rõ, điều kiện che mưa, che nắng, thông thoáng, v.v…
3. Mức độ và chất lượng trang thiết bị kỹ thuật vệ sinh.
4. Mức độ trang trí nội thất và khả năng áp dụng các vật liệu trang trí hiếm và đắt tiền.
Theo chất lượng sử dụng nhà dân dụng chia thành bốn bậc:
Bâc I: chất lượng sử dụng cao.
Bậc II: chất lượng sử dụng khá.
Bậc III: chất lượng sứ dụng trung bình.
Bậc IV: chất lượng sử dụng thấp.
II. Vé độ bền lâu của công trinh
Độ bền lâu của công trình thể hiện ớ các điểm sau:
1. Việc sứ dụng các nguyên vật liệu có độ bền lớn hay khó bị “lão hóa”, vật liệu ít bị ánh hường của môi trường xâm thực cho các kết cấu chịu lực chính của nhà và tính

ưu việt của bản thân giải pháp kết cấu đối với các điều kiện làm việc bất lợi (rung, trùng phục, chỗ ẩm ướt, trong nước biển…).
2. Chất lượng các vật liệu bao che ốp phủ các kết cấu chịu lực dùng để bảo vệ cho các bộ phận chịu lực chính của nhà chống lại được các ảnh hưởng phá hoại và xâm thực của môi trường như hiện tượng gỉ, mục, mọt, v.v…
Theo độ bền lâu, công trình có 4 bậc (tiêu chuẩn ngành TCXD 13-1991):
Bậc I: bảo đảm niên hạn sử dụng trên 100 năm Bậc II: bảo đảm niên hạn sử dụng trên 50 năm Bậc III: bảo đảm niên hạn sử dụng trên 20 năm Bậc IV: bảo đảm niên hạn sử dụng dưới 20 nãm
III Vẻ độ chịu lửa của công trình
Độ chịu lửa cúa công trình là khá năng công trình có thể chịu được ảnh hướng cúa nhiệt độ cao hay ngọn lửa cháy mà khả nãng làm việc cúa công trình hay cấu kiện chính của nhà không bị phá hỏng hay xuất hiện những hiện tượng làm việc bất bình thường.
Độ chịu lửa của nhà thê hiện ở:
1. Mức độ cháy của các vật liệu chế tạo các kết cấu chính của nhà (tường, khung, cột, sàn, mái…). Mức độ cháy là khả năng bắt lửa và cháy của các vật liệu. Theo mức độ cháy, các vật liệu xây dựng chia làm ba nhóm:
– Nhóm vật liệu không cháy là các vật liệu không cháy thành ngọn lửa, không cháy âm ỉ, không biến thành than, ví dụ như các vật liệu khoáng, kim loại.
– Nhóm vật liệu khó cháy là các vật liệu khó có thể bốc cháy, cháy âm í hay biến thành than. Đó thường là các hợp chất của các vật liệu không cháy và dễ cháy như: amiãng – bitum, bêtông, atsphan, thạch cao trộn mùn cưa hay dăm bào, tấm phibrôlit (ximăng – sợi gỗ ép), toocxi (vôi rơm), v.v…
– Nhóm vật liệu dễ cháy là các vật liệu khi gặp ngọn lứa hay ớ gần lứa dễ bốc cháy, biến thành than. Đó là các vật liệu có nguồn gốc là chất hữu cơ như tre, nứa, gỗ V.V…

2. Giới hạn chịu lửa của các kết cấu chính của nhà. Đó là thời gian tính bằng giờ (hay phút) mà kết cấu có thể chống lại được ảnh hưởng của ngọn lửa hay nhiệt độ cao kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc nó không còn khả năng làm việc bình thường hay bị mất độ ổn định cho phép, hoặc cho đến khi trên cấu kiện xuất hiện những đường nứt ngang, hoặc đến khi mặt bên kia của cấu kiện (mật không tiếp xúc trực tiếp với ngọn lửa hay nhiệt độ cao) nhiệt độ đạt tới 150°c.
Giới hạn chịu lửa không chỉ phụ thuộc mức độ cháy cúa vật liệu chế tạo cấu kiện mà còn phụ thuộc vào đặc tính làm việc của kết cấu, vào kích thước cụ thể của cấu

kiện và một số điều kiện khác nữa. Ví dụ: thép là loại vật liệu không cháy do đó nhà bằng kết cấu thép rất ít khi bị cháy. Nhưng nếu bị cháy hay nếu kết cấu chính chịu ảnh hưởng của nhiệt độ cao thì chỉ cần 1/2 giờ sau khi cháy ha> khi nhiệt độ trên mặt kết cấu lèn đến 600°c thép sẽ mất sức bền, kết cấu bị võng, mất ổn định và nhà sụp đổ tức khắc. Ngược lại, gỗ là một vật liệu dễ cháy, nhưng cấu kiện gỗ thường có tiết diện lớn và gỗ còn có tính chất giữ được sức bền ở nhiệt độ cao (khi chưa bắt lửa, biến thành than) cho nên khi bị cháy kết cấu gỗ chịu đựng được thời gian khá lâu mới sụp đổ. Như vậy là mức độ cháy của gỗ kém hơn thép song giới hạn chịu lửa của nó lại cao hơn thép.
Độ chịu lửa cúa công trình chia thành 5 bậc theo bảng 1.1.

Clìú thích:
1. Trong các ngôi nhà có bậc chịu lửa III thì sàn tầng một và tầng trên cũng phải làm bằng vật liệu khó cháy, sàn tầng hầm hay tầng chân tường phải làm bằng vật liệu không cháy, có giới hạn chịu lửa không dưới 60 phút;
2. Trong các ngôi nhà bậc chịu lửa IV, V thì sàn của tầng hầm hay tẩng chân tường phải làm bằng vật liệu khó cháy, có giới hạn chịu lửa dưới 45 phút;
3. Trong các phòng có sản xuất, sử dụng hay bảo quản chất lỏng dẻ cháy và cháy được sàn
phải làm bằng vật liệu không cháy;
4. Đối với các ngôi nhà có tầng hầm mái mà kết cấu chịu lực của mái là vật liệu không cháy thì cho phép lợp mái bằng vật liệu dễ cháy mà không phụ thuộc vào bậc chịu lửa của ngôi nhà;
5. Đối với những ngôi nhà cách đường xe lửa đầu máy hơi nước dưới 30m, thì không được
lợp mái bàng vật liệu dẻ cháy.
Cân cứ vào những cơ sớ chủ yếu về chất lượng sử dụng, độ bển lâu và độ chịu lửa đã nêu ớ trên, các cóng trình dân dụng được phân thành 4 cấp theo các chuấn trình bày ớ bảng 1.2.

– Ngoài 4 cấp thông dụng trên còn có cấp đặc biệt (theo Nghị định số 209/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ).
– Trong một tập hợp nhiều công trình có thể ấn định cấp nhà khác nhau cho từng công trình riêng, tùv tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ công trình. Trong trường hợp này những ngôi nhà chính, trọng điểm cần quy định cấp cao hơn những ngôi nhà khác.
– Khi thiết kế một công trình nào đó có cấp nhà phải dược quy định rõ ràng trong nhiệm vu thiết kế và khi đã được cơ quan có thám quyền duyệt y phải dược ghi ở trang dầu của hổ sơ thiết kế và ký hiệu bàng số La Mã (I, II, III, IV). Những chi tiết riêng của cấp dó cẩn phải được giải trình rõ thêm trong bản thuvết minh của còng trình đó.
Bảng phân cấp theo 4 cấp cồng trình trên đây chí áp dựng cho những còng trình thiết kế thông dụng. Đối với những công trình đặc biệt quan trọng có tầm ánh hướng đến cả nước như nhà quốc hội, cuna văn hóa quốc gia, nhà bảo tàng quốc gia, v.v… sẽ không áp dụng những quy định này mà có những chí dẫn riêng về chất lượng sử dụng, độ bển lâu, độ chịu lửa và đặc biệt là khống chế số tầng nhà và tổng diện tích sàn… (Nãm 2004 Chính phú đã ra tiêu chí phân cấp, phân loại công trình xây dựng khá cụ thể, người thiết kê và quản lý chất lượng công trình cần tham khảo thêm (Nghị định số 209/NĐ-CP) đế nắm vững hơn 5 cấp nhà ứng với 5 nhóm phàn loại công trình) (tham khảo Phụ lục 1).
Nói chung tất cả các loại nhà ở, công trình công cộng thông dụng thường chỉ thiết kế ớ cấp II. Riêng các công trình biệt thư cao cấp, khách sạn quốc tế, các công trình công cộng đặc biệt có quv mô lớn hoặc phạm vi sử dụng toàn quốc, toàn thủ đô, trực thuộc Trung ương, v.v… được thiết kế ớ cấp I hoặc cấp đặc biệt. Các công trình ở các thị xã nhỏ, thị trấn, các khu công nghiệp ngoài thành phố, công nông lâm trường, các hầm mỏ, được dùng cấp III. Chỉ được xây dựng công trình ở cấp IV cho các khu vực xây dựng tạm thời.
Cần chú V khi thiết kế các công trình công cộng thì mức độ sử dụng vật liệu trang trí và đồ dùng thiết bị kỹ thuật vệ sinh, điện, nước phải tương đương cấp ấy, nhưng cho phép được sử dụng vật liệu trang trí và đồ dùng thiết bi vộ sinh, điện, nước ớ mức độ cao hơn cho các phòng và khu vực có yêu cầu sử dụng đặc biệt (phòng khách, tiền sảnh, khu vệ sinh cho cán bộ cao cấp, chuyên gia, khách nước ngoài, các phòng mổ, v.v…).
Trong một khu nhà ở, các công trình công cộng phục vụ đời sống nhân dân trong khu phải thiết kế cùng cấp với nhà ở (trừ các công trình tạm thời).