Phân khu hợp nhóm trong nhà công cộng

I. Các giải pháp phân khu hợp nhóm trong tổng mặt bằng

1. Hợp khốicác công năng trong từng tòa nhà
Tức phân khu trong từng tòa nhà. Theo cách này từng công năng sẽ được bố trí trong từng ngôi nhà độc lập cách xa nhau, được áp dụng ở vùng đồi núi, dốc nhiều không cho phép tạo nên mặt bằng xây dựng rộng lớn hoặc hoạt động riêng biệt của công năng đòi hỏi phải được cách ly an toàn (trong bệnh viện có những khoa truyền nhiễm, có những khu vực gây ô nhiễm… cần cách ly tốt đôi vối các công trình khác).
Nhược điểm:
• Tốn đất xây dựng cũng như chi phí về san nền và phần hoàn thiện khu đất, trang bị kỹ thuật tốn kém (do khu đất xây dựng rộng, mật độ xây dựng nhỏ).
• Hình khối kiến trúc bị xé vụn nên khó tạo nên những mặt đứng bề thế, rộng lớn. Mặt khác các diện tích phụ cũng tốn kém hơn, đặc biệt diện tích giao thông.
• Việc liền hệ chặt chẽ giữa các khu vực bị hạn chê và chịu ảnh hưởng bất lợi bởi thòi tiết xấu (sự bất tiện).
ưu điểm:
Nổi bật nhất là sự thông thoáng, tạo điều kiện tốt cho sự lấy ánh sáng và thông gió tự nhiên, cho sự gắn bó công trình vối thiên nhiên và khung cảnh môi sinh, cho sự cách ly để tạo sự hoạt động không ảnh nưỡng lẫn nhau, đơn giản về kết cấu…
2. Phân khu trong một tổng thể kiến trúc liên thông, liên hoàn (h.II.4.1, h.ll.4.2)
Thường gặp trên những khu đắt bằng phẳng, rộng lớn: các khu vực chức năng được bô tri trong từng loà nhà, nhưng giữa các tòa nhà vối nhau hoặc để khoảng cách không quá xa hoặc được nối liền với nhau bằng hệ thống hành lang cầu (h.II.4.8).
Giải pháp này cũng có ưu – khuyết điểm như giải pháp trên song những phần ưu đã được nhấn mạnh hơn và những khuyết được giảm nhẹ, tạo được sự thông nhất liên hoàn không gian – hình khối; liên hệ các bộ phận sẽ thuận tiện, các mặt đứng và hình khối sẽ bề thế, phong phú. Giải pháp thường được áp dụng ở các công trình có công năng phức tạp, xây dựng ở vùng nhiệt đói rất cần sự thông thoáng (như các bệnh viện, trường học, cơ quan nghiên cứu và các khu liên cơ quan).

Hình 11.4.1: Phân tích công năng và tổ hợp phân khu câu lạc bộ

3. Phân khu theo tầng, theo cánh nhà trong tổ họp có “không gian – hình khối” tập trung
Giải pháp thường gặp ở những khu đất xây dựng có mặt bằng chật hẹp hay cho những công trình đơn năng không phức tạp. Có thể áp dụng một trong hai giải pháp:
• Cô đặc khép kín (h.11.4.3, h.II.4.6, h.II.4.7)
Giải pháp này có ưu điểm là tạo nên hình khôi kiên trúc đồ sộ tập trung cao độ nên tiết kiệm được các diện tích giao thông, các trang thiết bị; kiến trúc được tổ hợp kiểu cô đặc, tập trung có hoặc không có sân trong; sự liên hệ giữa các khu vực được chặt chẽ. Điều kiện thông thoáng để lấy ánh sáng và thông gió tự nhiên có bị hạn chế, để khắc phục thựòng phải tổ chức hệ thôhg sân trong, giếng trời (h.II.4.8, h.II.4.11, h.II.2.5). Các phòng khu vực hoạt động ồn ào có thể ảnh hưởng lẫn nhau.
• Tập trung nhưng với khối kiến trúc mở (tung toé) và dàn trải (h.II.4.7, h.II.4.8)
Theo cách này khối kiến trúc có nhiều cánh nhà được hợp khối nhưng dàn trải hay tung tóe để tạo ra những khu không gian sâu nửa mở hoặc mở hoàn toàn cho các khu kế cận công trình và tao được hình khối kiên trúc phong phú có bề sâu không gian, có sự gãn két hòa nhập giữa kiến trúc và thiên nhiên cảnh quan.
Giải pháp này thường gặp ở những công trĩnh lốn tọa lạc trên những khu đất trông, thoáng nên có thể đóng góp vẻ đẹp kiến trúc cho cả bốn phía chung quanh bởi các mặt đứng hình khối và cả bóng dáng – siluet cảm nhận được từ xa (ví dụ Đại học Lomonoxov – Moxkva)
Bản thân các cánh nhà thường không dày rộng để bảo đảm ánh sáng có thể lấy được từ hai phía cho các phòng ốc và dễ dàng tổ chức thông gió tự nhiên. Việc phân khu chức năng có thể thực hiện theo từng tầng nhà (theo chiểu ngang), cánh nhà (theo chiều đứng) hoặc kết hợp ngang và đứng (chỗ theo tầng, chỗ theo cánh).

II. Các giải pháp tổ hợp “không gian – mặt bằng” kiến trúc
Vổi từng loại công năng riêng biệt người thiết kế đều cần phải tìm ra được mối quan hệ trong từng nhóm hoạt động, từ đó thiết lập nên các hồ sơ lưu tuyên. Tùy theo tính chất và cấp độ của môi quan hệ này mà người ta có thể chọn một trong những kiểu tổ hợp sau:
1. Phòng lớn, được quảy quanh bàng các không gian nhỏ (h.ll.4.3, h.ll.4.6 )
Giải pháp này thuồng được áp dụng cho các công trình đơn năng và các công năng chính diễn ra trong không gian lớn đó, còn các không gian nhỏ chỉ là các phòng bé, phụ thuộc và phục vụ cho không gian chính đó.
Mối quan hệ giữa không gian chính và phụ ở đây chủ yếu là môi quan hệ mạnh, trực tiếp.
Ví dụ: Phòng triển lãm công nghiệp; các công trình văn hóa, biểu diễn; các chợ có mái, siêu thị; các tiền sảnh trong các nhà ga, nhà thi đấu…
ự:: khuyết điểm: cho chúng ta một không gian chặt, chẽ, tiết kiệm, nhưng sự thông thoáng cho các phòng ốc bị hạn chế, phòng lớn không có thông gió và ánh sáng tụ nhiên. Vì vậy nếu áp dụng cho các phòng khán giả, thi đấu, phòng triển lãm íà rất thích hợp vì nó không đòi hỏi chiếu ánh sáng tự nhiên và thông thoáng.
Điều kiện không gian thông thoáng đạt đươc chủ yếu là bằng các giải pháp nhản tạo.
2. Chuỗi phòng Hên hệ trực tiếp kiểu xâu chuồi hay không gian liên thông – liên hoàn
Thường gặp trong những nhóm phòng có cùng tính chất hoạt động, sự liên hệ không gian cần chặt chẽ trực tiếp không có yêu cầu cách ly cao giữa các không gian hoặc cần phải thực hiện lưu tuyến rành mạch trong một trình tự nhất định.
Ví dụ: Khu vực thư giãn, vui chơi giải trí, hoạt động trưng bày triển lãm và bảo tàng.
ưu khuyết điểm: tạo nên một hệ thốiig không gian phong phú, nhiều đột biến bất ngờ, những không gian ấm cúng và sinh động, lại tiết kiệm được các khối tích hoặc diện tích giao thông.
Tuy nhiên có một nhược điểm cơ bản: là sự định hướng của người sử dụng trong quá trình hoạt động và sự tìm kiếm các lốì thoát an toàn khi gặp sự cô nguy hiểm có khó khăn. Để khắc phục người ta thường mở thêm những cửa dự phòng để thoát sự cố, bảo đảm dù chạy theo hưống nào trong khoảng cách 30m cũng có thể tìm ra lối thoát.
Tại những lối thoát dự phòng này ngiíời ta sẽ tổ chức những khu tạm dừng cho nghỉ ngơi, thư giãn… và thường được che chắn bằng những mảng kính cửa sổ lớn để tạo nên những tầm nhìn đẹp và thoáng ra phía ngoài, tạo khả năng định hướng tốt hơn và tâm lý an tâm cho khách.
3. Dùng hành lang làm phưong tiện liên hệ không gian (h.II.4.7, h.II.4.8, h 11.4.9)
Có thể là hành lang bên hay hành lang giữa. Các phòng ốc sẽ được tập trung quanh hai phía hoặc một phía của hành lang. Các hành lang này cần nối liền với các nút giao thông và hệ thống sảnh. Hệ thốiig chuỗi gian phòng này thường tạo nên các không gian đơn điệu cứng nhắc nhưng rành mạch và liên hệ khúc triết rõ ràng tuy có lãng phí diện tích phụ (15% – 30% tổng diện tích sàn).
Giải pháp này thích hợp với các công trình có nhiều phòng và từng pbòur ần có yêu cầu cách ly mối có thể hoạt động được. Ví dụ: các bệnh việii, truờug học, các cơ quan hành chính…

4. Kiểu dơn nguyên phán đoạn (h.ll.4.4)
Được áp dụng nếu như việc hợp nhóm có i he tạo nên những khu vực có tính chất lặp lại nhiều lần hoặc những khu vực hoạt động mang tính điển hình nhưng cần có sự độc lập tương đôi Toàn ngôi nhà sẽ là sự tập hợp của nhiều đơn nguyên và mỗi đơn nguyên sẽ gồm một sô phòng điển hình chuẩn vối mối liên hệ hoạt động trực tiếp có sự cách ly tương đối, tạo khả năng tổ hợp đa dạng, phong phú để thích ứng với nhiều điều kiện quy hoạch. Gó hai dạng tổ hợp thường gặp là tập hợp theo tuyến hoặc kiểu chùm (h.II.4.7, II.4.8).