Những khía cạnh tâm lý xã hội học của người ở trong các chung cư cao tầng (P1)

Đô thị hóa là con đường tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước. Sự bùng nổ dân số cùng hậu quả của dòng dịch cư từ nông thôn ra thành thị buộc các tbành phố phải 1UỞ rộng và phát triển theo chiều cao. Chỉ trong hai nám 1995-1996, Hà Nội và thành phô” Hồ Chí Minh đã triển khai xây dựng hơn 50 cao ốc từ 10 tầng trở lên trong số hơn 150 dự án được duyệt vối số tầng bình quân 18 – 25 tầng. Những năm tiếp theo cơn lốc cao ốc chắc còn mạnh mẽ hơn. Trước mắt những cao ốc Việt Nam vẫn còn những bưốc chập chững, mang tính thám dò và thể nghiệm để chuẩn bị cho những bưóc phát triển trong lĩnh vực văn phòng làm việc, kinh doanh đa chức năng, mảng diện tích thường chiếm tỷ trọng không lốn trong tổng diện tích sàn của kiến trúc cao ốc. Phần lớn những cao ôc tương lai của Việt Nam chắc chắn sẽ là các chung cư theo quy luật chung của đô thị hóa cưòng độ cao. Thật vậy nhà ở cao từ 10 tầng trở lên ở Liên Xô (cũ) chiếm một tỷ lệ từ 7,9% (năm 1975) đã tăng lên đến 15% (năm 1985-1990) và còn đang tiếp tục tăng nhanh. Ở các nước Đông Âu những năm 1990 chung cư cao 9 tầng trở lên chiếm 12-32%. Ở thủ đô và các thành phô’ lớn tỷ trọng này cao hơn nhiều, ví dụ ở Bucarest .đạt đến 80%. Vào những năm 1980 các thành phô’ lổn và vừa ở Trung Quốc đã đẩy mạnh việc xây dựng kiến trúc cao tầng, từ năm 1984 đến năm 1989 đã tăng tỷ trọng từ 5,1 đến 15,5% trong tổng diện tích xây dựng hàng năm. Trong số kiến trúc cao tầng thì phần nhà ở chung cư cao tầng hàng năm chiếm tỷ lệ 40-55%. Tỷ trọng này còn cao hơn nhiều tại Bắc Kinh. Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến… Từ năm 1976 Bắc Kinh đâ xuất hiện cao trào xây dựng nhà ở cao ôc kiểu đại trà vổi sô tầng phổ biến từ 12 đến 18 tầng trong đó phần dành cho nhà ở chiếm 77% tổng diện tích nhà cao tầng và tỷ lệ nhà ở cao tầng chiếm 46% tổng số cao ô’c vào năm 1990. Ở Thẩm Quyến trong số nhà từ 9 tầng trở lên có 39,2% là nhà chung cư.
Singapore ở Đông Nam Á nổi tiếng về thành phô’ cao ô’c vối tuyệt đại bộ phận các chung cư là các nhà ở cao tầng từ 16 đến 25 tầng bảo đảm chỗ ở cho gần 90% dân số.
Từ những dẫn liệu trên có thể dự đoán trong những năm tới, bên cạnh các cao Ốc văn phòng, các khách sạn và trụ sở kinh doanh đa chức năng, các thành phô’ lốn Việt Nam đặc biệt là Hà Nội, thành phô’ Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các chung CIÍ cao ô’c với số tầng bình quân 12-16 tầng và cao hơn để bảo đảm tỷ trọng nhà ở khoảng 20% số kiến trúc cao tầng hay 30-35% tổng diện tích sàn của kiến trúc cao ô’c.
Như vậy vói gần ba triệu mét vuông diện tích sàn trong những dự án cao ốc của thành phô’ Hồ Chí Minh dự kiến trong những năm tới, cũng sẽ xuất hiện gần một triệu mét vuông cho nhà ở chung cư, có thể giải quyết chỗ ở cho hàng vạn hộ gia đình, đặc biệt các hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Sinh hoạt gia đình trong nhà ở cao tầng đối với nhiều nưốc không còn là điều xa lạ, nhưng với các gia đình Việt Nam thì lai hoàn toàn mổi oán co thrli gian để làm quen… vì rõ ràng không thể chốỉ bỏ, mà nhiều khi còn cần được chấp nhận như một loại hình nhà ỏ đô thị quan trọng vì những mặt ưu việt của nó (tiết kiệm đâ’t xây dựng, tăng thêm được từ 20-80% diện tích sàn so vối xây dựng nhà nhiều tầng, rút ngắn khoảng cách đi lại do đó tiêt kiệm thòi gian, tiện lợi sử dụng – giao dịch, tiết kiệm hệ đường ống kỹ thuật, tăng quỹ thời gian rảnh rỗi, cải thiện chất lượng cuộc sốhg và cuối cùng tạo nên sự phong phú và hấp dẫn cho kiến trúc đô thị…).
Vì mảng đối tượng khai thác sử dụng các chung cư c.ao tầng ngày càng lốn trong quá trình đô thị hóa cũng như giải tỏa các quần cư quá tập trung, nên các nhà xã hội học đã quan tâm thích đáng đến hiệu quả kinh tê, xã hội của loại hình này và những khía cạnh tâm sinh lý – xã hội học của dân cư đang sống trong đó bằng cách tìm hiểu nắm bắt các khía cạnh này trong các phỏng vấn điều tra có liên quan.
Sau đây là một số kết quả thụ vị rút ra từ các thông tin thu được từ một cuộc điều tra xã hội học nhà ở cao tầng ở Pháp rất đáng quan tâm.
1. Thích ở tầng cao yên tĩnh thông thoáng, thích cao điểm có tẩm nhìn dẹp, không bị hạn chế tẩm mắt
Nếu được có điều kiện chọn lựa, đa sô đều không chọn tầng trệt, tầng thấp mà luôn hướng lên tầng cao. Hỏi lý do vì sao họ đều trả lời càng cao càng có điều kiện nhìn vẻ đẹp thành phố trong đêm, nhìn được chân tròi, chứng kiên mặt trời mọc, lặn, hưởng thụ khoái cảm thị giác với các cảnh quan mở rộng, vối các viễn cảnh thú vị. Ở tầng thấp thiếu điều kiện vệ sinh trong lành, thiếu ánh sáng, ồn bụi và tầm mắt bị hạn chế. Tuy nhiên cũng chỉ có 1/3 đối tượng có điều kiện tự do chọn lựa, còn thì chịu cảnh phân đâu ở dó (do đưọc cấp nhà), hoặc không đủ điều kiện kinh tê’ để chọn lựa. Nhìn chung trong chung cư cao tầng giá mua hoặc thuê càng lên caọ càng đắt. Tiếp theo tiêu chuẩn trên mới đến giải pháp tổ chức không gian căn hộ, diện tích căn hộ và số buồng phòng, chất lượng nơi cư trú (gần chỗ làm việc, trường học, công viên, trung tâm chợ búa…).
2. Thích ở cao nhung vẫn ngợp độ cao
Có những người tuy vẫn thích ở cao nhưng do yếu bóng vía, sợ nhìn xuốhg ở độ cao đành phải thuê nhà ở thấp tầng. Những người khác sông trên cao đều nói rằng (90% số người trả lời) mới đầu có lo ngại nhưng rồi cũng quen và I,nay bình thường, chấp nhận có thể sông tốt trên cao, nhưng cần quan tâm thiết kê sao để bảo đảm an toàn tối đa cho trẻ nhỏ và người già, đặc biệt chú ý độ cao bậu cửa sổ, cách đóng mở cửa thuận tiện an toàn khi có gió lốn, chiều cao và cách che chắn của tay vịn ban công, lôgia… Nhìn chung phần lổn vẫn mong muôn căn nhà có một góc thiên nhiên để tổ chức cây xanh, tiếp cận với bầu tròi và không khí tươi mát nhưng vẫn an toàn.