Mô hình nhà ở hàng phố của phố cổ và Hà Nội xưa

Nhà ở hàng phố chỉ để ở (các phố cũ của Hà Nội dành cho thị dân và công chức …)
Nghiên cứu đặc điểm của loại nhà này ta thấy rõ yêu cầu chỉ dùng để ở, nên việc thiết kế có chú ý tới điều kiện về ăn, ở hơn, bô’ trí nhiều tiện nghi hơn, xây dựng phần lớn ở những khu phố yên tĩnh, tiện đường giao thông, gần những nơi sầm uất. Nhưng vì đây vẫn là loại nhà hàng phố, nhà nọ vẫn sát nách nhà kia, không thể tổ chức sân vườn rộng rãi do điều kiện đất đai còn đôi khi hạn chế. Thường là làm nhà một hai tầng, bề ngang chỉ trên dưối 4m và cũng được phát triển theo chiều sâu và cao, lô đất chỉ có hai mặt nhà tiếp xúc được nhiều với thiên nhiên. Với kiểu kiến trúc này, để bảo đảm thông gió và ánh sáng cho các phòng và buồng ở người ta phải tổ chức sân trong. Lớp nhà trong cùng tiếp xúc với sân nội trợ bao giờ cũng là bếp, tắm, xí, chum vại chứa nước. Các phòng ở cao tối 4 – 5m và rộng 20 – 40m2.
Quan hệ nội bộ các phòng nói chung vẫn là quan hệ xuyên phòng; những kiểu nhà này thường gặp nhiều ở những khu: Hàng Bún, Lê Văn Hưu, Yết Kiêu, Phùng Hưng…
Nhìn chung ta thấy một số dạng mặt bằng sau đây:
a) Nhà một tầng khối ghép.
b) Nhà hai, ba tầng khôi ghép.
c) Nhà có ngõ và cổng phụ bên sườn (h.I.4.19).
Việc sắp đặt và lợi dụng không gian bên trong phần 1Ố11 tương tự như nhà hàng phố buôn bán.
Một dạng nhà khác cũng khá phổ biến, có điều kiện tiện nghi cao hơn là loại biệt thự hàng phố kiểu sân vườn cho công chức, gia đình trung lưu, như một số nhà làm hàng loạt giông nliau trên các phố Bà Triệu, Quan Thánh, Nguyễn Thái Học … dùng để cho thuê và bán của một số thầu khoán và tư sản nhà cửa.
Do đất để làm nhà hàng phô không được rộng rãi, nếu để vườn nhiều sẽ không có đất làm nhà nên chỉ dành đằng trước nhà một vườn rộng chừng một vài mét làm vườn cảnh trồng cây lấy bóng mát. Cạnh nhà là một lỏi đi chừng một hai mét vào thẳng sân trong và nhà phụ phía sau. Nhà như vậy là có vườn, sân quanh ba mặt vối phía ngoài cũng có hàng rào và cổng ngõ, còn sân trong nhà thì cũng được tổ chức bố trí theo những nguyên tắc chung như các loại nhà trên. Quan hệ giữa các phòng vẫn là nhờ quan hệ xuyên phòng hoặc có thể thông qua buồng cầu thang, hiên. Nhà có thể được ghép xít nhau ở tầng lầu, cũng có thể tách khỏi nhau một khoảng cách hẹp không thể trổ cửa được. Nói chung nhà vẫn chỉ có hai hoặc ba hưống tiếp xúc với thiên nhiên như kiểu nhà ghép khôi ít tầng.
Nhìn chung các kiểu nhà vừa nghiên cứu ở trên, do điều kiện đất đai chật hẹp vẫn chỉ là kiểu nhà hàng phố, nên về mặt bô” cục chúng đều có một nguyên tắc thông nhất về cách bô’ trí và sắp đặt các khu, phòng theo chiều sâu nhà với nhiều lớp buồng phòng cách nhau bằng hệ thông sân trong (h.I.2.5).
Vai trò của cái sân trong loại nhà này là nó tạo ra sự thông thoáng và ánh sáng cho các buồng ỏ; đó cũng là nơi chuẩn bị thức ăn đồ nấu cho thoáng mát khi không muốn tiến hành công việc ở trong bếp; đó còn là chỗ phơi phóng, nơi trẻ con 11Ô đùa. Sân vốn là đặc điểm thường thấy của các nhà ở Việt Nam trong điểu kiện khí hậu nhiệt đối.
Khu bếp và nhà vệ sinh bao giờ cũng được tập trung ở phía sau cùng nhà, tiếp sau một lớp sân, được khai thác sử dụng như sân nội trợ, bảo đảm điíỢc mối liên hệ “sân – bếp” thích hợp để công việc bếp nước được nhẹ nhàng, thoáng mát hợp vệ sinh. Trên bếp có thể tổ chức thêm một gác nhỏ lên bằng cầu thang gạch xây dốc (45 -ỉ- 60°) dùng riêng biệt làm chỗ ngủ cho người giúp việc thường gặp trong gia đình có cuộc sông phong phú, lợi tức thu nhập cao.
Nhìn chung vể quy hoạch thì rõ ràng nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Mặt trước quay ra các đường phố, phía sau nhà đitợc đặt sát gần nhau hình thành một ngõ phố chỉ rộng 1,2 – l,5m dùng làm nơi tập trung cống rãnh thải nước bẩn. đường lấy phân rác của các gia đình hoặc thông ra ao đầm, đường ngõ xóm của làng nội đô.
Về cách bô’ trí này, khu phụ các nhà ít ảnh lníỏng lẫn nhau như trong nhà nông thôn và thị trấn, các phòng ỏ được thông thoáng và có ánh sáng tốt. Quan hệ lân bang xóm giềng được cởi mỏ thâu mật và vẫn riêng biệt, kín đáo tạo nên một phong cách kiến trúc độc đáo về nhà ở thành phố Việt Nam vốn xem không gian giao tiếp cộng đồng chủ yếu là diễn ra ở đường phố, lối ngõ…