Mô hình nhà để ở và kinh doanh của phố cổ và Hà Nội xưa

Nhà hàng phố vừa để ở vừa có mặt hàng buôn bán và kinh doanh nghề truyền thống (phố cổ Hà Nội – 36 phố phuòng và Hội An là diển hình)
Nhìn vào những ngôi nhà ở này ta vẫn dễ dàng nhận ra cũng vẫn là những ngôi nhà ba hoặc năm gian đã có biên đổi đi, được bô’ trí thành nhiều lớp cách nhau bằng một vài sân nhỏ, phát triển chủ yếu theo nhu cầu cụ thể của cuộc sống một gia đình có người vợ là tiểu thương hay người chồng là thợ thủ công chuyên nghiệp (h.I.2.5).
Phân tích đặc điểm của ngôi nhà ở thành thị ta thấy do yêu cầu về mặt buôn bán nên việc tranh chấp để có mặt cửa hàng rộng quay ra phô là một vấn đề quan trọng và tất yếu. Do sự tranh chấp đó tuyệt đại đa số các nhà có bề ngang chỉ trên dưới 3m, tức bằng bề rộng một gian trong ngôi nhà ba hoặc năm gian khi xưa, nhưng lại được phát triển mạnh theo chiều sâu mà vẫn dùng kết cấu mái cũ của nhà dân gian nên không gian hầm mái sẽ lón và để tận dụng người ta thường làm thêm những gác lửng gỗ, leo lên bằng cách để lỗ sàn và gác một thang thường một vê với độ dốc 70 đến 75° cũng làm bằng gỗ. Gác lửng để chứa những hàng dự trữ hay bô’ trí giường ngủ nên có độ cao không quá 2,2m. Nếu cần phát triển hơn nữa về diện tích để ở thì họ phát triển theo chiều đứng nhà để thành những tầng nhà hẳn hoi, do đó ta đã thấy có những nhà chiều ngang chỉ một vài mét nhưng đã làm cao đên hai, ba tầng thậm chí bôn tầng vối chiều sâu đên vài chục mét. Kiểu kiên trúc đó tất nhiên để bảo đảm thông gió và lấy ánh sáng tốt cho các buồng – phòng phải lợp ngói kính ở một số ô mái và tất nhiên lớp trong cùng tiếp xúc vối sân nội trợ sẽ là bếp. khu vệ sinh và chỗ ở của người giúp việc gia đình.
Quan hệ nội bộ các phòng đều là quan hệ xuyên phòng nghĩa là lợi dụng khoảng không kê đồ sát một mặt tường dọc nhà để làm lôi đi. Những kiểu nhà như thê ngày nay có thể tìm thấy vết tích ở những phô’ xưa: Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Buồm của Hà Nội và các thành phố lớn (h.I.2.5).

Về mặt bô’ cục chung của những ngôi nhà này ta thấy ngoài cùng là một lớp không gian (nếu nhà rộng thì ba gian, hẹp thì một gian) dùng làm nhà khách vừa để ở vừa để tiến hành nghề phụ và cách đó một cái sân chừng 4 m lại có một lóp không gian khác dùng vừa làm nhà thờ và cũng để ở. Còn bếp, tắm, xí là thuộc lớp trong cùng thường xây dựng vá víu tùy tiện.
Để thích nghi với cuộc sông gia đình có vợ buôn bán hoặc chồng làm thợ thủ công, người ta tliưòng vẩy thêm ra một mái nhà thấp trông ra phô’ dùng làm cửa hàng buôn bán.
Nhìn chung, chính do yêu cầu buôn bán mà trong thành phô’, các nhà ở kiểu gian đã tùy tiện vẩy thêm cái mái để làm cửa hàng. Do mạnh ai người nấy làm. phô’ sá trỏ nên chật hẹp, nhà cửa mái cao mái thấp lô xô, tường mặt thò ra thụt vào không nhất quán mà tình trạng đó ngày nay còn thấy dấu vết trong các khu pliô cổ.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19 – 12 – 1946 ::hững ngôi nhà được xây dựng ở những khu buôn bán này vẫn giữ mục đích cũ nhưng được cải tạo xây dựng lại một cách quy mô hơn vói tường gạch mái ngói lioặc kliung bêtông cô’t thép mái bằng. Chiều ngang nhà vẫn như vậy nhưng phần chính nhà được xây cao hơn với nhiều tầng gác, có thêm hiên (lôgia) và bao lơn (ban công) ở các tầng trên. Trong nhà có máy nước và có khi có cả xí máy.
Phía ngoài cửa hàng không còn là gian phụ vẩy thêm nông hẹp với một mái dốc chảy thấp nữa mà đã kết hợp sử dụng cả gian nhà ngoài cải tạo thành như một tầng nhà cao 4 – 5m làm cửa hàng rộng rãi đàng hoàng.
vẫn giữ được đặc tính tốt đẹp của kiến trúc dân gian Việt Nam là sự gắn chặt giữa nhà ở với thiên nhiên cây cỏ mặc dù điểu kiện đất đai chật hẹp ở thành thị, ngôi nhà hàng phố bao giờ cũng có sân trong (một hoặc hai) một mặt để tạo cho nhà sự thông thoáng, thêm diện tích phơi phóng phục vụ nội trợ, nhưng mặt khác đó cũng là nơi ngưòi chủ gia đình có ý muốn tạo ra một thế giới thiên nhiên thu nhỏ gần gũi nơi ở vổi sự tươi mát của cây xanh hoa lá, sự hữu tình của sơn thủy “giả”. Khi nghiên cứu về hệ quả thông gió bằng nhiệt thông – sự thông gió hoàn toàn do sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai của mặt nhà kiểu ống này – phó tiến sĩ khoa học kỹ thuật vương Quốc Mỹ đánh giá đó là một kinh nghiệm tốt của Việt Nam: “ban ngày đường phô’ bị chiếu nạng, không khí nóng bốc lên trên hình thành ở trưốc mặt nhà một vùng áp lực thấp làm chuyển dịch không khí mát từ phía trong sân ra. Buổi chiều lại có hiện tượng ngược lại – không khí từ phô’ chuyển vào trong sân trong”.
Trong thực tế, sông trong những ngôi nhà ống đó ta cũng cảm thấy khá rõ những luồng gió hiu hiu mát lúc trưa hè hay vào chiều tối rất đáng quý vào những ngày trời đứng gió.
Khu bếp vệ sinh bao giò cũng tập trung ở phía sau và cách ly vối phòng ở bằng một sân nội trợ có bể chứa nưóc; và phần lớn công việc chuẩn bị bữa cơm, tắm rửa, giặt giũ quần áo cho con cái họ đều tiến hành ỏ ngoài sân thoáng gió này.
Bếp, tắm, xí vẫn là các bộ phận ít được quan tâm giải quyêt tốt, hôi hám, bẩn thỉu nên thường được cách ly khỏi các phòng ở và bô trí về phía cuối gió. Thật bất tiện cho những gia đình không thể tổ chức lôi cổng sau để lấy phân, lấy rác, còn nói chung nhà nào cũng cố gắng sáng tạo ra lối phụ mỏ từ phía sau nhà. Vì thế nhà hàng phô’ có một đặc điểm nổi bật là có trước có sau, vẫn giữ được vẻ kín đáo và ấm cúng của các nhà nông thôn truyền thông.
Trên đây là nhận định sơ bộ về đặc điểm và bô’ cục của loại nhà vừa ở, vừa buôn bán ỏ thành thị xưa. Những ngôi nhà đó, giờ đây còn tồn tại ở rất nhiều thành phô’ lớn đặc biệt là ở Hà Nội. Đó là những khu ở kiểu nhà ông chật chội chen chúc, nhà cửa san sát nối tiếp nhau, cái cao, cái thấp và điều kiện tiện nghi trong sinh hoạt còn nhiều mặt chưa tốt. Một ngôi nhà trước xây dựng cho một gia đình sử dụng thì ngày nay thường dùng cho nhiều hộ, có khi hàng
chục hộ chung nhau một bếp và một khu phụ. Trong hoàn cảnh như thế người ta thường chỉ dùng chung nhà vệ sinh, máy nước và buồng tắm còn nhà nào nhà ấy đều cô’ gắng tổ chức khu vực bếp riêng của mình. Ban công, hiên, sân, lôi đi … nghiễm nhiên thành diện tích phụ của từng gia đình. Sống thế âu còn tốt hơn cảnh sông cãi vã, tranh giành ảnh hiíởng mất đoàn kết ở những bếp chung.