Kinh nghiệm tổ chức không gian cư trú truyền thống trong kiến trúc nhà ở dân gian Việt Nam (P3)

Người chủ của các ngôi nhà truyền thông của nông thôn là các “gia đình cơ bản” loại nhỏ, phổ biến gồm hai hoặc ba thê hệ: hai vợ chồng và dăm ba người con, không có hoặc có bô’ mẹ cùng chung sông. Trưốc đây, nhân khẩu trung hình khoảng 6-8 người, nay có xu thế giảm xuốiig còn 4-6 người. Những gia đình này mang nặng ảnh hưởng lối sinh hoạt và mối quan hệ Nho giáo phong kiến,mà nổi bật trên hết là những ảnh hưởng và ràng buộc của tàn dư chế độ phụ quyền. Từ nếp sống đến tập quán, phong tục, các tổ chức không gian kiên trúc, cách bài trí nội thất đều toát ra rất rõ rệt sự thiếu bình đẳng giữa người chủ gia đình và các thành viên: tính tôn ti trật tự, tinh thần trọng nam khinh nữ, chê độ bảo vệ huyết thông (như thò cúng tổ tiên, quyền thừa kế, tục cưới vợ gả chồng, xây nhà cho con trai khi ra ở riêng…). Cái không khí gia đình đó dẫn đến kết quả là ảnh hưởng của người bô’ đến các con rất mạnh mẽ đã cản trở sự hình thành các mẫu cá nhân có cá tính, khiến những nhu cầu sinh hoạt riêng biệt của nhà ở không nảy nở được. Tính chất đơn điệu, nghèo nàn của giải pháp kiến trúc chính một phần đã bắt nguồn từ sự độc đoán và ảnh hưởng của tính “cha truyền – con nối” phụ quyền này. Chức năng “sản xuất – kinh tê” đã hoàn toàn lấn át các mặt chức năng khác của gia đình. Các quyền lợi về đòi sông sinh hoạt của các thành viên (ngoài người chủ gia đình) hầu như bị tước bỏ, do đó giải pháp tổ chức không gian kiến trúc thiên về “chung” hơn “riêng”, về “đa năng” hơn “đơn năng”. Chất lượng cuộc sông đều hướng về nội dung tinh thần đạo lý, kiểu “hướng nội” hơn là nội dung thực dụng, về hưởng thụ vật chất, vào biểu hiện bề ngoài của sự vật, không thích phô trương hình thức kiểu “hưóng ngoại”. Tính cha truyền con nối không chỉ diễn ra ở quyền sở hữu về thổ ngơi, tài sản mà cả ỏ thói quen, tập quán, ở ước mơ và quan điểm sông của nhiều thê hệ con cháu kê tiếp. Toàn bộ ngôi nhà hình như chỉ thấy tập trung tổ chức tiện nghi và trang trí cho ba gian nhà chính, chỗ ở của người đàn ông – người chủ gia đình, kết hợp làm nơi thờ cúng tổ tiên, chỗ tiếp đãi khách. Người vợ và các con hầu như không được quan tâm để có những diện tích và không gian thích đáng cho những sinh hoạt tôi thiểu. Đây chính là những mặt hạn cliê của lối kiến trúc nhà ở cổ truyền. Nó đã tạo ra một môi trường sốhg nội thất phục vụ cho lôi sống ích kỷ, thiên về khổ hạnh, hy sinh quyền lợi cá nhân, thích triết lý đạo đức, coi thường giá trị cuộc sông vật chất và văn hóa mà giờ đây không còn là lý tưởng cùa nhà ở hiện đại (trái ngược vói tính chất hào hiệp cởi mở của ngoại thất ở bô* cục sân vườn).

Trong xã hội cũ. mọi số phận, hành vi từng thành viên trong gia đình đều là do gia đình gây dựng và quyết định, phải chịu sự giám sát chặt chẽ của gia đình lẫn gia tộc, cho nên nhà ỏ thời nay vẫn có lối kiến trúc dùng một phòng lớn trang trọng làm trung tâm, nơi sẽ đặt bàn thờ gia tiên, nơi cần tập hợp đông đủ các thành viên hàng ngày, nơi có thể tiến hành được khi cần thiết những lễ nghi long trọng hay các cuộc họp đại gia đĩnh hay toàn gia tộc mà mọi không gian phụ khác đều phải quy tụ vào đó. Giải pháp này đáp ứng đồng thời được nhiều nhu cầu: vừa phục vụ sản xuất vừa góp phần củng cố thêm uy thế cần thiết của chế độ phụ quyền – gia trưởng, bởi đó là không gian sinh hoạt chủ yếu của người đàn ông, chủ ngôi nhà. Cũng có thể không gian chung phủ nhận tính biệt lập sinh hoạt của từng thành viên đã là một đặc điểm nổi bật của tổ chức không gian nhà ở truyền thông Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Dầu sao, trong ngôi nhà chính của gia đĩnh bao giò cũng có tôi thiểu hai không gian riêng biệt: một phòng lớn “thông xuồng” ba gian (khoảng 24m2) hay một gian hai chái (khoảng 16-18m2) vói gian giữa rộng (2,2 – 2,4m) bao giò cũng dành vị trí xứng đáng cho bàn thờ gia tiên và làm nơi tiếp khách; hai gian bên có hẹp hơn (1,6 – 2m) dành làm chỗ ngủ cho con trai lớn và khách. Hai bên là một gian buồng kín, được gọi là “phòng the” đặt sát phòng lớn trang trọng trên, là thê giới riêng của phụ nữ trong gia đình và cũng là chỗ cất dấu lương thực đồ đạc và là nơi sinh hoạt kín đáo của gia chủ. Nhà khá giả năm gian thì gian kín đối xứng phía kia thường được dành riêng cho kho, cho chỗ làm nghề hay nơi dạy học.
Đặc điểm kiến trúc trong ngôi nhà này còn thấy thể hiện rõ ở cái hiên thoáng hay thềm nhà rộng, tập trung ở ngay phía mặt trước của hệ thông các cửa bức bàn thông thẳng vối sân, làm nhiệm vụ một không gian chuyển tiếp nửa kín – nửa hở giữa trong và ngoài, giữa nhà và sân, với nhiều tác dụng trong sinh hoạt đời sống hàng ngày: phương tiện che mưa tạt, nắng chói, chỗ nghỉ ngơi của gia đình, nơi giao tiếp với khách khứa, chỗ hóng gió, thưởng thức trăng hoa và nhất là để làm nơi chạy tạm đồ phơi phóng trên sân mỗi khi mưa rào ập tói. Bề mặt còn lại của ngôi nhà này được giải quyết tương phản hoàn toàn vối phía kia, quây bưng kín mít đôi khi có những lỗ cửa nhỏ với mục đích chông gió lạnh và bảo mật. Trong ngôi nhà chính này người nông dân đã thể hiện nhiều kinh nghiệm tốt để khai thác tận dụng không gian, tạo ra sự thông thoáng, khô ráo, mát mẻ vào mùa hè, che gió tạo ấm cúng vào mùa đông, đã biêt sử dụng vài biện pháp che nắng chông gió, cách nhiệt rất hiệu quả và thông minh (các hình thức lợp mái cói hay cỏ, rơm và phên liếp di động, các tấm giại, mành sáo lọc ánh sáng, giàn cây…). Thuộc không gian ở, ngoài ngôi nhà chính còn có thêm 2 -3 gian nhà ngang nhưng ít được chú trọng hơn với phần chủ yếu được sử dụng trong công việc làm gạo (chỗ xay, giã, sàng sẩy, bêp núc hay làm nghề phụ). Kiến trúc chuồng trại thường được tách thành một công trình riêng cũng có thể gắn liền với nhà ngang hay nhà chính tùy theo hình thức khu đất ở, theo thê đất quy hoạch và theo thuật phong thủy, miễn sao tiện việc chăm sóc và tranh thủ được thời gian. Nhà nào cũng có rào, giậu, cổng ngõ riêng được tổ chức không hẳn để bô phòng như nhà cửa của giai cấp địa chủ, quan lại mà chủ yếu theo tinh thần “yêu nhau thì rào giậu cho kín”, một hình thức ngăn chia theo “tinh thần”. Còn trên thực tế, các gia đình đã sông đoàn kết đậm tình nghĩa kiểu “liền sân – thông rào” của quan hệ láng giềng cộng đồng cổ truyền, cổng nhà cấu tạo đơn sơ mà vẫn đẹp và cũng đã hòa nhập vối bốì cảnh thiên nhiên cũng giống như hằng giậu duốì hay cây xén, hàng rào dâm bụt và thường đặt lệch khỏi trục nhà chính. Việc tổ chức ngõ vào có cầu kỳ hơn trên cơ sở quản lý bảo vệ tốt vườn ao và nhà cửa, tạo sự kín đáo, nhất là phải phù hợp với thuật phong thủy.