Kinh nghiệm tổ chức không gian cư trú truyền thống trong kiến trúc nhà ở dân gian Việt Nam (P2)

Thật vậy, sống trong môi trường cư trú cổ truyền, mọi người đều cảm thấy nhu cầu được dễ dàng thâm nhập vào cuộc sông, vào nhà ở của nhau thật tự nhiên, thoải mái đã được xem như một nguyên tắc của bố cục nhà ở trên cùng một lối xóm.
Yêu cầu giao tiếp của nhà ở truyền thông gần như đã lấn át nhu cầu biệt lập. Ngày xưa sống biệt lập, xa chòm xóm thường chỉ dành cho những gia đình ngụ cư và bất hảo; nhà kín cổng cao tường chỉ thấy ở tầng lớp địa chủ, phú hào. Mặt khác nữa là nhà ỏ của gia đình nông dân về mặt xây dựng không mang tính chất tập trung hợp khối cao như nhà ở dân gian các nước khác, mà nổi lên rất rõ tính chất một quần thể nhiều công trình nhỏ, đơn giản phân tán nằm vây quanh ngôi nhà chính vói cái sân thoáng rộng gắn liền phía triíớc ngôi nhà này. Đặc tính trên là do nhiều nguyên nhân, nhưng chắc không ai chối cãi đó là hiệu quả tất yếu của một quá trình xây dựng hoàn chỉnh dần dần từng bước trong cả giai đoạn dài “an cư lạc nghiệp” của gia đình người chủ. Giải pháp này cho phép người nông dân, trong những điều kiện khó khăn về sản xuất và đời sông của quá khứ đã có thể tự đảm đương giải quyêt lấy vấn đê nhà ở không chỉ cho thê hệ họ mà cả cho thế hệ con cháu kê tiếp (khi trưởng thành lập gia đình riêng). Cũng cần thấy thêm ỏ đây khía cạnh nguyên nhân đáp ứng nhu cầu sinh hoạt – cơ động của không gian ở trong nhà ỏ truyền thống, thỏa mãn tính biến động về nhu cầu ỏ của gia đình trong cả 2 — 3 thế hệ tồn tại.

Cái sân trong nhà ở dân gian Việt Nam đã mang nhiều tác dụng rõ rệt; là nơi tiến hành sản xuất, chỗ phơi phóng, không gian tạo thoáng mát vệ sinh cho ngôi nhà chính và nếu biết kết hợp với không gian trong nhà, chủ nhân có thể tổ chức các cuộc tụ hội lớn ngay tại gia đình, một tập tục phổ biến của nông thôn ngày xưa (giỗ chạp, ma chay, cưới xin, ăn khao…). Bố cục sân vườn thể hiện rõ nguyên tắc “trên dưới” và “trưốc sau”: ao thường ở chỗ thấp nhất chỗ đầu gió, trưóc nhà; cao hơn là đất vườn, sân và công trình phụ; cao nhất là nhà ỏ chính. Ngôi nhà này thường được quay về hưống Nam hoặc chếch Đông Nam theo kinh nghiệm dân dã,”lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam”, nhằm mục đích vừa được gió cho nhà chính, vừa được nắng cho sân, tránh nắng tây xiên khoai bất lợi và chịu được gió bão lớn. Tuy nhiên cũng có mặt hạn chế, những điều phản khoa học trong một sô’ giải pháp bô” cục ao, vườn truyền thống vì mê tín và câu nệ thuật phong thủy.
Các công trình phụ được tổ hợp quanh công trình chính, ôm lấy cái sân phơi rộng trên dưối 40m2 này theo một sô” dạng phổ cập: chữ nhất, chữ nhị hay chữ đinh, gọng bừa… Các công trình chính, phụ đều cô gắng ẩn mình trong vòm câv xanh của cây lấy gỗ và cây ăn quả trong vườn nhà như thể cô ý nhờ cây lá bảo vệ cho chúng đương đầu với gió bão lỏn, đồng thòi tranh thủ tận hưởng khí mát và độ trong lành của bầu không khí dưới vòm cây. Cũng chính vì tính chất này mà có thể các nghệ nhân xưa thường ít chú ý đến đường nét và khôi hìnli bên ngoài của các công trình so với không gian nội thất. Những kinh nghiệm truyển khẩu dân dã vê giải pháp sân vườn nhií: “ao trưốc – vườn sau”, “chuôi sau – cau triíốc” không chỉ có gia trị về mặt tạo cảnh mà còn thể hiện đầu óc thực tiễn khoa học trong kinh nghiệm chông nóng, cải tạo vi – khí hậu, tạo môi trường cư trú thích nghi và thú vị. Cái sân phơi “đa chức nàng” tlioãng đãng và sạch sẽ (vì thường được lát gạch hay được xử lý bằng ximăng hay bằng đất gia cô” tro hay vôi) nằm ngay trung tâm của bô” cục quần thể kiến trúc này lại nói lên một đặc điểm truyền thông khác của kiến trúc dân gian Việt Nam: thực dụng và khoa học. Các nhà vật lý xây dựng và sinh thái có lý khi đã ví nó như: “trái tim – lá phổi” tại vùng nông thôn nhiệt ẩm này, vì nó không chỉ là nơi diễn ra những điệp khúc sinh hoạt chủ yếu của đời sông của một gia đình nông dân vừa làm nghề lúa nước vừa làm ngliể phụ theo nhịp điệu của thời vụ, của ngày đêm, mà còn làm nhiệm vụ điều hòa cải tạo khí hậu, tái lập điều kiện sông trong lành cho mọi loài sinh vật cộng sinh: ban ngày được dành chủ yếu cho lao động sản xuất – làm nghề, còn chiều tôi và ban đêm (nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát) dành chủ yếu cho đời sống tình cảm, nghỉ ngơi, sum họp gia đình và cho giao tiếp xã hội. Sân còn bổ sung ánh sáng phản xạ cho bên trong các phòng ỏ (thiếu ánh sáng trite tiếp vì mái thấp lại ẩn dưới vòm cây) và sân cùng vói vườn cây xum xuê đêm đêm tái tạo không khí trong lành, tươi mát để làm giảm đi sự mệt mỏi, vất vả ban ngày của con người. Tương phản nhiệt độ của mặt sân bị nung nóng và bóng mát vườn cây vào lúc lặng gió đã tạo nên dòng không khí mát “thổi – hút” đôi lưu hai chiều trong mùa hè,đưa đến nơi nghỉ ngơi hay hoạt động thường xuyên của con người vào ban trưa hay chiều tôi. Chính những tác dụng này mà nó đã theo người nông dân ra thành thị để biến tướng thành sân giếng (patiô) có diện tích trên dưới 10 mét vuông rất đặc sắc và điển hình của “nhà ở kiểu ông” phô” phường xưa, nav đã trở thành yếu tô” thích dụng trong nhà ở hiện đại dưới dạng các “sân nước”, “hiên nội trợ” hay “sân trời – Terrasse”.
Với một nội dung và giải pháp tổ chức không gian cư trú như thế đã tạo cho người nông dân Việt Nam một thói quen, nay đã trở thành tâm lý lối sông với sinh hoạt không chỉ bó tròn trong không gian nội thất của một vài phòng ốc như trong thành phô’ hay ở nhà ở nông thôn, các nưốc xứ lạnh. Một phần thời gian đáng kể trong năm, trong ngày họ thích tiến hành công việc gia đình trong những hiên thoáng, ngoài thềm hè, trên sân phơi, sân giếng, ở dưới bóng mát của giàn cây, bên cầu ao hay trong góc vưòn nhiều gió và đầy thú vị vốn rất đậm đà bản sắc không gian cư trú truyền thông…
Đi sâu vào ngôi nhà ở chính, ta thường bắt gặp kiểu tổ chức không gian nông trên cơ sở hệ cấu trúc “gian – vì kèo” truyền thông với gian lẻ ba, năm hoặc một gian hai chái; ba gian hai chái… Đặc điểm tổ chức không gian nội thất công trình này đã phản ánh một “mô hình – văn hóa” điển hình của xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám với nhiều đặc thù.