Kiến trúc và bản sắc văn hóa, truyền thống dàn tộc có môi quan hệ hữu cơ sông còn

kiến trúc phải hiện đại trong sự kế thừa liên tục nền văn hóa dán tộc
Mỗi dân tộc, do những đặc thù tự nhiên, đặc biệt là quá trình ứng xử, thích nghi với môi trường trong lịch sử tồn tại, phát triển của mình, đã hun đúc lên truyền thống văn hóa riêng mang những giá trị bền vững. Bản sắc văn hóa này không chỉ lưu giữ, thế hiện trong tư tướng đạo đức, lối sống, trong vãn học nghệ thuật mà cả trong công trình kiến trúc, vật dụng hàng ngày.
Chẳng hạn cùng là một vùng địa lý khí hậu nóng ẩm Đông Nam Á với nguồn gốc văn hóa gần giống nhau nhung kiến trúc các nước Việt Nam, Miến Điện, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Bruney, Singapore có những nét riêng khá rõ nét đậm đà bản sắc từng quốc gia, từng dân tộc.
Bản sắc dân tộc chính là cái cốt lõi, cái tinh túy của tính dân tộc thể hiện ở mỗi lĩnh vực cụ thế của đời sống, của văn hóa nghệ thuật. Đó là bằng chứng về bản lĩnh sáng tạo cúa dân tộc, những kinh nghiệm ứng xử thông minh, khôn khéo, có hiệu quả trong quá trình tồn tại lâu dài chống lại hoàn cảnh khắc nghiệt của môi sinh, môi cảnh xã hội.
Chúng ta đều biết không phải ngay từ đầu khi con người chế ngự và lợi dụng điều kiện tự nhiên đã có ngay được bản sắc vãn hóa. Văn hóa có thể xuất hiện sớm, có quá trình phát triển tựa như một dòng sông liên tục chảy và trên tiến trình đó sẽ có những thời kỳ sôi động, trong đó sẽ có một giai đoạn mà những giá trị tiêu biếu cúa dân tộc được hun đúc mạnh mẽ, được định hình, các bản lĩnh tiềm năng được huy động tối đa

(đặc biệt trong lĩnh vực tư tướng, văn hóa hay nghệ thuật), được phát huy mạnh mẽ và lúc đó bản sắc vãn hóa, đặc thừ truyền thống dân tộc mới hình thành. Bán sắc có được thường phái từ tính liên tục lịch sử cứa văn hóa dân tộc.
Nói dến bán sắc văn hóa Việt Nam, người ta thường đề cập tới ba giá trị khác nhau:
– Tinh thần yẽu nước và quật cường dân tộc trong chiến tranh giữ nước.
– Tính cách bình dị của tâm hồn Việt Nam, lạc quan, yêu thiên nhiên, những ứng xử linh hoạt, nhanh thích nghi với tinh thế và cái mới, lao động cẩn cù, ưa thực tiễn.
– Lòng nhàn ái. khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, thích hài hòa, ưa sự cân đối, tính thâm thúy, tế nhị trong biếu cảm và ứng xử.
R ièng vồ bán sắc dân tộc và truyền thống trong kiến trúc ta thấy nổi bật những giá trị sau:
– Sự khiêm ton và đơn giản về khối hình; kiến trúc thường cân xứng, hướng nội nhưng cán hài hòa với khung cảnh thiên nhiên như muốn hòa nhập đồng nhất hữu cơ với thiên nhiên theo quan điểm “nhất thể vũ trụ”, “âm dương quàn bình”, và “thiên nhân hợp nhất”.
– Các cóng trinh công cộng chú trọng chất hoành tráng trong tổ chức bố cục không gian và xứ lý tổng thể công trình, trên nguyên tắc không thiên về tính đồ sộ đối chọi hay lấn át thiên nhiên (các trục thần đạo, kiến trúc đối xứng, lớp lớp sân thềm tam cấp và mặt nước, không gian liên hoàn có đóng có mở…) (hình 1.16).
– Chú ý đến tính biếu tượng tinh ấn dụ, sự hàm súc, chất điêu khắc làm cho hình khối kiến trúc hàm chứa tinh triết lý phương Đỏng với sức truyền cảm đa nghĩa, súc tích, tinh lê. thâm trầm, nên trí tuệ mà không phô trương, cô đọng đơn giản mà không nghèo nàn thô thiên (hình 1.16).
– Không gian nội thất, ngoại thất xử lý kiểu công dụng đa năng biến hóa linh hoạt có sự kết hợp hữu cơ giữa sân thoáng, hiên nửa kín, nửa hớ và buồng phòng, tạo nhiều khả năng gắn kết không gian kiến trúc với thiên nhiên ngoại cảnh một cách tự nhiên và phong phú, sinh động (hình 1.16).
– Không gian kiến trúc được kiến tạo và hình thành trên cơ sở hệ cấu trúc đơn giản hợp lý có logic kết câu khúc triết, mang tính điển hình cao (ít loại hình, tháo lắp dễ dàng, vận chuyển thuận lợi) mang tính công nghiệp hóa cao… (hình 1.17).
– Ưa trang trí kiến trúc bằng chạm trổ và điêu khắc (ảnh hưởng mạnh kiến trúc Nam Á) trên các bộ phận kết cấu và chi tiết kiến trúc nhằm làm giảm nhẹ sức nặng, tạo sự phong phú khi con người tiếp cận gần nhưng khi nhìn xa vẫn hoành tráng, ấn tượng khỏe khoắn, về tạo hình chú trọng cái đẹp nhờ tỷ lệ hài hòa, tỷ xích “nhân văn” nhằm nhấn mạnh sức truyền cảm có sự thống nhất từ chi tiết đến tổng thể làm cho kiến trúc vừa thuận mắt dễ coi vừa gần gũi với tầm vóc người Việt Nam (hình 1.17).

Trong thế giới văn minh hậu công nghiệp và tin học, sự phát triển của một nền kiến trúc bất kỳ đều không thể đóng kín. Văn minh thế ký XX – XXỈ đòi hỏi kinh tế, ván hóa thế giới giao lưu hội nhập. Trong điều kiện như vậy, kiến trúc cần hiện đại để hội nhập. Hội nhập nhưng không được hòa tan. Muốn vậy cần hơn bao giờ hết, văn hóa- nghệ thuật nói chung hay kiến trúc nói riêng phải kế thừa phát huy truyền thống, phải đậm đà bản sắc dân tộc.
Kiến trúc có hiện đại mới đáp ứng tối đa những yêu cầu do ba yếu tố tạo thành của kiến trúc đòi hỏi: công năng, kỹ thuật, hình tượng của thời đại dang sống, đáp ứng nguyện vọng và thị hiếu của dân tộc. Trong “hiện đại” đã hàm chứa “dân tộc”. Chỉ có thể đạt mức thành công cao khi các kiến trúc sư – tác giả sáng tạo biết tắm mình trong không khí ưu ái trân trọng những gì là bản sắc văn hóa, bản sắc dàn tộc, để chúng có thể thấm vào máu thịt biến thành bản lĩnh và tay nghề.

Nội dung và hình thức của kiến trúc tuy thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử, của thời đại, song vẫn có tính truyền thống và mang tính kế thừa sâu sắc của văn hóa dân tộc. Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán sinh hoạt riêng, truyền thống văn hóa riêng cũng như những kinh nghiệm và các giải pháp xử lý kiến trúc riêng của mình. Cho nên cùng thuộc vùng khí hậu nóng ẩm, nhưng kiến trúc Cu Ba khác với kiến trúc Mêhicô, kiến trúc Việt Nam khác với kiến trúc Indonesia, Ân Độ… Ngay cả trong thời kỳ hiện đại, kiến trúc nghệ thuật thực dụng dễ bị quốc tế hóa nhưng tính dân tộc cũng đã được phản ánh rõ nét trong kiến trúc một số nước như Ấn Độ, Nhật Bản, Brasil, Trung Quốc, một số nước theo đạo Hồi. Đó là sự thành công đáng học tập của các nước đã xác định cho mình hướng phát triển kiến trúc đúng đắn (hình 1.6, 4.23 và 4.24).
Cũng cần thấy kiến trúc trong một nước tuy có những nét chung, nhưng tùy v ùng, tùy dân tộc lại có những đặc điểm, tính cách riêng, nên bản sắc dân tộc không dơn điệu, cứng nhắc mà đa dạng và phát triển không ngừng. Ngày nay, trên đất nước ta còn tổn tại các loại kiến trúc cổ, truyền thống như đình, chùa, tháp, miếu thế hiện rõ những nét đạc thù Việt Nam đáng tự hào. Đó là những di sản quý báu, đã kết tinh kinh nghiệm lâu đời về giải pháp kiến trúc và thẩm mỹ kiến trúc của cha ông, cho nên chúng ta – nhũng người làm công tác nghiên cứu, sáng tác kiến trúc và thẩm mỹ công trình – phải chú ý coi trọng truyền thống văn hóa tốt đẹp và di sản kiến trúc quý báu đó. Tuy nhiên, nghiên cứu, học tập, kế thừa phải có sự phân tích, phê phán, gạn lọc và sáng tạo để phát triển tạo ra một nền kiến trúc tiên tiến hiện đại nhưng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam chứ không phải là mô phỏng hay bắt chước cái cũ. Tránh nệ cổ, bảo thủ nhưng cũng cần tránh mê tín, sùng bái cái mới, cái độc đáo xa lạ.