Kiến trúc nhà ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Loài người khi ấy đã hoàn toàn chuyển từ nền kinh tê du canh du cư sang định cư lại tại những vùng đất phì nhiêu dễ dàng kiếm sông lâu dài.
Lúc này nền kinh tê của loài người đã có sự kết hợp giữa săn bắn và lao động sản xuất. Thời kỳ này con người đã chủ động can thiệp vào thiên nhiên. Họ đã tìm ra nhiều cách để cải tạo thiên nhiên tạo nên một môi trường sông thích ứng và tốt đẹp hơn. Ngoài việc canh tác trồng trọt, săn bắn, hái lượm, họ cũng đã biết thuần dưỡng thú hoang dã và các khu vực ở đã có thêm những chuồng trại đơn sơ. Cũng lúc này xã hội loài người đã phân hóa hình thành những gia đình và bắt đầu có sự phân công xã hội rõ rệt. Bên cạnh những ngiíời lao động tự do, xã hội còn hình thành nên tầng lớp nô lệ và chủ nô. Nhà ở của họ lúc này đã có những biến đổi sâu sắc. Sự phân hóa giai cấp thấy càng rõ nét hơn khi chúng ta nhìn vào ngôi nhà ở của họ: nhà ở của giai cấp thông trị (bọn chủ nô …) và của giai cấp bị thống trị (người X1Ô lệ). Các chủ nô thường sống trong những ngôi nhà lớn hay trang trại có bô” phòng kỹ lưỡng xây diíng kiên cô”, còn những người lao động tự do và nô lệ phải sống trong những ngôi nhà được tổ chức đơn sơ bằng những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên như thảo mộc, đất đá, rơm rạ. Chỗ ở của họ đôi khi còn tùy tiện, bẩn thỉu, hôi thối. Nội dung nhà ở còn mang rõ tính chất dân chủ và bình đẳng với những không gian đơn sơ và đa năng. Trong xã hội nô lệ thì dần dần những không gian này đã được chia nhỏ thành những không gian riêng biệt: kho chứa lương thực dự phòng, nơi chăn nuôi và nơi sinh hoạt… Điều đó cũng cho ta thấy được sự khác biệt râ’t rõ nét giữa nhà ở của chủ nô và nhà ỗ của nô lệ về nội dung cũng như hình thức tổ chức không gian. Nhà ở chủ nô là một quần thể tòa ngang, dãy dọc quây quanh những sân trong với từng không gian với chức năng riêng, các chuồng trại, chỗ ở của nô lệ được tách xa và xây dựng tạm bợ.

Thời chế độ chiếm hữu nô lệ, nền văn minh nhà ở đã được bộc lộ rất rõ nét ở Ai Cập, Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ, những cái nôi của nhân loại.
Tại Ai Cập cổ đại, nhà ở thường làm bằng đất sét, lau sậy và gạch nung chỉ tliấy có trong nhà ở quí tộc. Khoảng 4000 năm trưốc công nguyên, ở gần Cai Rô người ta đã phát hiện ra một điểm dân cư lớn vối hai loại nhà điển hình:
• Loại nhà khung gỗ, tường gỗ, trên khung có cài tường bằng gỗ ken sậy. Nhà có phong cách nhe nhàng và chất lượng thẩm mỹ tương đối cao.
• Loại nhà có kết cấu gạch không nung, tường móng làm bằng đá hộc, hình dáng nặng nề không ổn định.
Nhà ở bấy giò đã phản ánh rõ nét sự đôi lập giàu nghèo. Mặt bằng nhà ở quí tộc Ai Cập thời kỳ này có những đặc điểm sau: mặt giáp phố” không trổ cửa sổ. chỉ có cửa hẹp thông vào sân trong, trong nhà có các phòng cho nam và nữ riêng biệt, phòng lớn có độ cao lớn, phòng nhỏ có độ cao bé hơn, phần chênh lệch về độ cao này dùng để làm cửa trời để thông gió, từ sân có cầu thang lên mái được dùng làm hơi để hóng mát.
Phát triển gần như song song với Ai Cập cổ thì ở châu Á có đất nưốc Trung Hoa và Ấn Độ cũng đă có một nền văn minh nhà ỏ cổ đại cũng rất đáng được chú ý.
Thê giói biết đến người Ấn Độ cổ đại như những nhà quy hoạch đô thị tiên phong qua dấu vết của các thành phố” cổ Môhengiô Đarô và Sanliô Đarô (ở vùng Xinh) cũng như Harrappa (ở Păng Giáp). Tại đây có những ngôi nhà gạch màu đỏ, mái bằng có tường ngăn xây lửng không đến trần để thông gió.

Trong thành phố còn có cả nhà hai tầng, tầng dưới là bếp, nhà tắm, kho, giếng, tầng trên là các phòng ngủ.

Từ thời đại đồ đá tiến lên thời đại đồ đồng ở Việt Nam tổ tiên xa xưa của chúng ta cũng đã ròi bỏ hang động miền núi để tiến xuống miền trung du và đồng bằng, quần tụ theo từng cụm mảng ở các đỉnh gò, SIÍÒ11 dồi, chân núi và đồi đất. Do sinh tụ giữa trời nên việc dựng nhà sao cho vững cứng ổn định trở thành nhu cầu bức thiết. Trải qua một quá trình dài thực nghiệm và cải tiến, đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, mô hình ngôi nhà đã hoàn chỉnh và khá phong phú mà hình ảnh cụ thể của nó còn được lưu giữ khắc trên một số trông đồng Đông Sơn mà dấu vết vật chất của nó cũng được tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn (Thanh Hóa): đó là những gióng tre, những mảnh phên đan và đặc biệt là những cột nhà bằng gỗ dài đến 4,5m có lỗ mộng (để bắc sàn?) cách chân cột trung tâm l,25m. Đó là những ngôi nhà ở trên sàn. không có titờng, mái cong võng hình thuyền và chảy xuống sát sàn, kiêm luôn chức nàng vách che, hai đầu mái phía trên uốn cong cuộn lại và nhô ra phía xa, trên nóc mái trang trí có một hoặc hai con chim đậu. Cạnh nhà ở còn có nhà kho cũng ở trên sàn, mái cong vồng lên hình mui thuyên, hai sườn mái rất dày, Những mẫu hình nhà này đều mang dáng dáp con thuyền, tĩnh mà lại rất động, thanh thoát mà rất chắc chắn, thích nghi vối khí hậu có nắng nóng và mưa to, hợp vối khung cảnh thiên nhiên vốn nhiêu ngòi lạch chằng chịt mà hàng năm vào mùa mưa nước dâng lên ngập trắng cả vùng. Để dựng lên những ngôi nhà sàn này, cư dân Đông Sơn dùng ngay vật liệu sẵn có trong rừng như tranh, tre, gỗ vói cấu trúc bộ khung cột – kèo – xà, mà toàn bộ sức nặng nhà dồn vào các cột để chuyển xuống đất, mặt ngoài có một số mô tip trang trí hình chim, gà sử dụng ở độ vừa phải không hề lạm dụng, đủ để làm duyên. Ngôi nhà sàn Đông Sơn võng nóc hình thuyền này còn đitợc thấy tồn tại ở các dạng nhà hình thuyền của người Dayake và ngiíời Toraja trên quần đảo Inđônêxia. Biến dạng một chút ngôi nhà sàn Đông Sơn để có nóc thẳng còn thấy một sô’ dạng nhà ở khác hoặc nhà mề của một sô bộ phận thổ dân trên quần đảo Inđônêxia. hoặc còn thấy đitợc ở cả nhà người Ẽđê trên Tây Nguyên … chứng tỏ giữa các khối cư dân này có một mổì liên hệ mật thiết mà riêng ở kiên trúc có một sự “bảo thủ”, dai dẳng, để qua đó (không hề khiên cưỡng) thấy được cả ở khung cảnh Đông Nam Á chịu sự tỏa sáng của vàn hóa Đông Sơn.