Khái niệm và phân loại kiến trúc nhà ở (P3)

Các chung cư

Nhà ở chung cư dành cho tập thể nhiều gia đình. Các căn hộ là tế bào tạo nên những chung cư đó. Căn hộ là một chuỗi không gian có quan hệ khép kín phục vụ đồi sống độc lập cho một hộ gia đình. Các căn hộ này được tập liỢp lại quanh những cầu thang, hành lang công cộng. Đây là loại nhà kinh tế nhất về mặt khai thác sử dụng đất của đô thị, nhưng đồng thòi cũng là loại hình nhà ở có tiêu chuẩn thấp hơn các loại nhà trên, được xây dựng thường thường từ bôn tầng trở lên, rất phổ biến trong các đô thị lớn (nhà ở tập thể gia đình). Khi chung cư cao hơn tám tầng cần có thang máy thì người ta gọi đó là chung CIÍ cao tầng. Chung cư thấp hơn sáu tầng không có thang máy thì người ta gọi đó là chung cư nhiều tầng (4-6 tầng) và thấp tầng (2-3 tầng).

Khái niệm và phân loại kiến trúc nhà ở (P3) 1

Nhà chung cư

Nhà ở kiểu khách sạn

Hiện nay trên thế giói loại nhà ỏ kiểu khách sạn là kiểu nhà ở rất được phát triển. Dây là’loại nhà ở bao gồm những căn hộ nhỏ (chủ yêu từ 1-2 phòng ở). Khu phụ trong căn hộ của nhà ở kiểu khách sạn tương đối đơn giản hơn ở chung cư nhưng trang thiết bị phục vụ công cộng lại khá hoàn thiện. Khi đánh giá chất lượng của nhà ở kiểu khách sạn, người ta căn cứ vào trang thiết bị trong càn hộ và khoảng cách từ phòng ỏ đến khu dịch vụ công cộng. Loại nhà này phục vụ cho những gia đình ít nhân khẩu (chỉ có hai vợ chồng không có con hoặc có một con, người độc thân, những cặp vợ chồng trẻ chưa có con). Nội dung của căn nhà kiểu này nằm ở giữa hai loại hình nhà ở chung cư và khách sạn. Các gia đình,thường là quy mô nhỏ,sông trong đó phải sử dụng chung các hành lang cầu thang như ỏ chung cư nhưng lại có bộ phận dịch vụ kiểu khách sạn ở ngay trong ngôi nhà để giúp đỡ, hỗ trợ cho sinh hoạt gia đình như các phòng bảo vệ, nơi tiếp nhận hàng, thư từ, các bếp và nhà án công cộng, các cơ sở giặt phơi, chỗ giải khát, uống cà phê, sinh hoạt câu lạc bộ như trong các khách sạn. Trong nhà ở kiểu khách sạn vì đã có những dịch vụ công cộng ngay trong nhà ở nên nội dung của căn nhà, các diện tích phụ (bếp, khu vệ sinh (WC) cho từng gia đình) được đơn giản hóa, nhằm tiết kiệm diện tích sử dụng. Chủ nhân của căn hộ có thể mua đứt hoặc chỉ thuê để ở. Loại nhà này thường thiết kê cao tầng từ 9-16 tầng, nằm ở những khu đất trống và lẻ loi ở trung tâm thành phô’ hoặc xen kẽ trong những hệ thống các nhà ở vùng ngoại ô.
Nếu căn cứ vào mức độ tiện nghi thì nhà ở kiểu khách sạn ở nước ngoài bao gồm:
• Phòng ở chỉ có chậu rửa
• Phòng ở có khối vệ sinh kết hợp.
• Phòng ở có khôi vệ sinh và bếp đơn giản (loại hộ nhỏ – Studio vối 1-^1 1/2 phòng ở)
• Loại tiêu chuẩn cao vói 2-3 phòng ở (kiểu căn hộ gia đình) có bếp và khôi vệ sinh đầy đủ (xí, tắm, và chậu rửa).
Khối các phòng phục vụ có loại phân tán đặt theo từng tầng (bếp và phòng câu lạc bộ) và có loại tập trung đặt ở một tầng nhà (đặt ở tầng dưới) hoặc đặt ở một tòa nhà riêng.

Nhà ở ký túc xá

Là loại nhà ở dành cho đốỉ tượng như những người độc thân, công nhân, quân nhân, sinh viên các trường Đại học, học sinh các trường Trung học chuyên nghiệp.
Trong nhà ở ký túc xá thường chia ra làm hai khu vực chính: khu vực ở và khu vực phục vụ công cộng (nhà ăn hoặc câu lạc bộ). Căn cứ vào môi quan hệ giữa khu vực ở và khu vực phục vụ mà có các giải pháp tổ hợp mặt bằng nlnt sau:
• Nhà ở ký túc xá có khu vực phục vụ bô trí ở tầng trệt.
• Nhà ở ký túc xá có các phòng phục vụ công cộng bô trí trong một nhà riêng nhưng gắn liền với nhà ở bằng hành lang cầu.
• Nhà ở ký túc xá chỉ có nhà ở.
Sô” chỗ của ký túc xá thông thường khoảng 300-400 chỗ. Tại các nước, mức dao động về sô chỗ ở khá lốn từ 20 đên 500 chỗ hoặc lớn hơn nữa. Thực tê tổng kêt ở một sô nưóc cho thấy: nếu thiết kê ký túc xá lớn hơn 500 chỗ sẽ kinh tê hơn vì giảm nhỏ được chi phí khai thác sử dụng.
Nhà ở ký túc xá có các loại nhà hành lang giữa, hành lang bên, hoặc kêt hợp hai loại hành lang trên, chỉ trong trường hợp tiêu chuẩn cao mới có mặt bằng kiểu đơn nguyên (không hành lang).
Tê bàc tạo nên ngôi nhà là các buồng ở tập thể cho cá nhân (người độc thân) chỉ bô” trí giường ngủ là chủ yếu, với các phòng bô’ trí 1 – 3 giường nếu là giường một tầng hay 6-8 giường nếu là giường hai tầng. Các khu vực wc, bếp được tập trung để phục vụ cho một loạt phòng. Các phòng sang cũng chỉ trang bị một vòi tắm bông sen, một vòi rửa mặt cho tập thể từ ba đến sáu giường.
Các bữa án thường được tiến hành trong các nhà ăn tập thể ngay cạnh nhà ở. Trong ngôi nhà chỉ có một vài lò bếp công cộng để hâm nóng thức ăn hoặc để nấu bổ sung thêm các thức ăn khác. Ký túc xá thường được thiêt kê 5-9 tầng, được phân bô trong các khu đất nhà máy, trường học, cạnh các công trình dịch vụ công cộng. Còn ở trung tâm thành phố’ cũng có thể tổ chức những ký túc xá 12-15 tầng chung cho nhiều đôi tượng, cho nhiều sinh viên các trường.
Tại nước ta tritác đây ký túc xá không được xây dựng quá năm tầng. Xác định mức độ tiện nghi của ký túc xá tùy thuộc vào diện tích ở và trang thiết bị kỹ thuật vệ sinh. Có loại phòng ở có thiết bị vệ sinh riêng, xí tắm đầy đủ; có loại phòng chỉ có chậu rửa .và có loại phòng không bô’ trí thiết bị vệ sinh riêng mà bô’ trí chung cho mỗi tầng, cho từng nhóm phòng.
Các phòng ở trong ký túc xá phải nhỏ hơn tám giường với tiêu chuẩn diện tích như sau:
• Nhà ở tập thể cán bộ công nhân viên 4m2/người là tôi thiểu.
• Nhà ở sinh viên và học sinh trung cấp 3,5m2/người (đối với trường hợp giường hai tầng lấy 2.5m2/người và tăng chiều cao tầng nhà lên 3,3m).
Trong ký túc xá khôi vệ sinh được thiết kế với tiêu chuẩn từ 15-18 người một chỗ tắm, một xí, một chỗ rửa và một chỗ giặt.
Trong nhà ở tập thể cho cán bộ công nhân viên có thể thiết kế thêm phòng khách chung rộng không quá 24m2.
Phòng ỏ ký túc xá cần phải có tủ tường và trong điểu kiện cụ thể có thể bô’ trí chậu rửa.

Khái niệm và phân loại kiến trúc nhà ở (P3) 1Ký túc xá