Hệ thống mạng lưòi công trình công cộng và nguyên tắc phân bố (P2)

Để tạo sức hút và khả năng tập trung đông đảo quần chúng và du khách vào các trung tâm “hạt nhân kiến trúc” của đô thị lốn mà không làm tắc nghẽn giao thông, không gây nguy hiểm cho khách bộ hành… các trung tâm công cộng lớn thường được tổ chức với nhiều dạng đường phố dành riêng cho ngưòi đi bộ, những dạng đan xen của phố ngầm, phố treo nhằm phân luồng giao thông cơ giới và bộ hành, làm cho tổ hợp không gian hình khối ở đáy rất phong phú, sinh động… thật tiện lợi và hiện dại.
Một ví dụ điển hình về sự thành công trong tổ hợp không gian hình khối nghệ thuật khu trung tâm đo thi hiện đại kiểu này (CBD) là khu Defense ở Paris (li.II.3.3). Bất kỳ du khách nào đặt chân đến đây cũng bị cuốn hút bởi một trục phố hùng vĩ hoành tráng đâm chạy thẳng tới “Khải hoàn môn” lịch sử và cung điện Louvre, bởi công trình Grande Arche (cổng lớn) – “khải hoàn môn hiện đại, cửa^ngõ nối liền với Thế giới, hướng về tương lai của nhân loại” mà từ ngay quảng trường dưới chân nó hay ở mái nóc vòm cổng mênh mông mọi người đều có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh Paris hoa lệ; cuối cùng còn bởi một hệ thông không gian môi trường vừa náo nhiệt, vừa phong phú và tuyệt mỹ với thảm cỏ, công viên với hệ thông các tượng đài… có sức mạnh kêt nôi làm cho lịch sử hiện tại và tương lai cùng hòa hợp hữu cơ – mà nổi bật là một giải quảng trường hoành tráng (600 X 70m) nhằm dành cho khách bộ hành được nâng lên ở một cốt cao thích ứng, hướng 111Ở theo tuyến trục chính hoành tráng, dùng cho không gian du ngoạn, nghỉ ngơi, nơi mít tinh, tụ hội, giao lưu… Các khối nhà cao tầng có kiến trúc đặc sắc độc đáo, thật sự hiện đại đã được bố cục rất khéo léo tạo ra một hệ thông quần thể không gian liên hoàn gợi cảm, có sự kết hợp đan xen phong phú vói các quảng trường ngầm, đường giao thông cơ giối dưới mặt đất và trên không rất ngoạn mục, đầy ấn tượng. Nhìn chung đến một thành phế. đặc biệt các thành phố thủ đô kliông du khách nào không muôn chiêm ngưỡng thăm viếng những quần thể kiến trúc đặc sắc, độc nhất vô nhị của các khu trung tâm của nó.

Hệ thống mạng lưòi công trình công cộng và nguyên tắc phân bố (P2) 1
Tóm lại: các công trình công cộng cấp I thường nằm ở trung tâm của nhóm nhà ỏ. Các công trình cấp II thích hợp trong khu trung tâm quận. Các công trình cấp III thích hợp ở quanh các trung tâm thành phố (xu hướng đa trung tâm) , tạo nên Iiiột mạng lưối phân bổ đều đặn các công trình công cộng theo
tầng bậc (h.II.3.1, h.II.3.2), tương ứng vói hệ thống không gian đô thị có quy mô và tầm ảnh hưởng tăng dần:
• Những đơn vị xóm giềng, tầm cỡ chừng trăm căn hộ hay còn gọi là đơn vị ở, tập hợp quanh một không gian công cộng kích thưổc nhỏ.
• Những khu phố, khu ở gồm từ 2000 đến 3000 căn hộ, tổ chức vây
quanh một trung tâm cấp II, giới hạn bằng một mạng lưới đường chính, với các trường học, điểm thương nghiệp tầm gần, khu thể thao, văn hóa xã hội… ■’
• Trung tâm chính của thành phố hay hên quận tập trung các công trình công cộng lớn là chính, có sức hút khai thác sử dụng toàn dân.
Đề phân biệt vối trung tâm cấp cơ sở và trung gian trong khu ở, các trung tâm chính này được bao quanh bằng mạng đường lớn có lưu lượng cao. có t áy xanh bóng mát và hệ thống bãi đỗ xe cần thiết, tiện lợi. Đây là mô hình quy hoạch đô thị kiểu công năng tầng bậc mà điển hình là các thành phô’ mới ở Anh được xem là thê hệ đầu còn chưa hoàn chỉnh nhưng dấn Brasilia là đại diện rõ nét của những thành phô hiện đại sau này. áp dụng lý thuyết trên một cách hơi cứng nhắc và ít hiệu quả. Cũng phải công bằng công nhận tính nhân văn và sự hợp lý nhờ ý tưởng tiết kiệm về mặt không gian thời gian (theo lý thuyết) của học thuyết quy hoạch đô thị hiện đại của những người theo chủ nghĩa công năng khi họ chủ trương:
• Phân biệt rõ các đường đi bộ tạo thuận tiện và an toàn cho việc tiếp cận các khu tụ tập dân cư (trường học, cửa hàng, sân chơi, bãi thể thao, nơi họp hành…) nhưng vẫn phải dễ tiếp cận được bằng ôtô (có tầm nhìn rộng, thuận tiện cho lái xe).
• Giao thông công cộng được chuyển ra ngoại vi và sắp xếp theo tầng bậc.
• Giải phóng các công trình thấp tầng bám dọc các đường giao thông (ở các thành phố truyền thống) tạo ra các quần thể kiến trúc lớn tách rời nhau, bô cục rất đa dạng nhưng tạo lập được các khoảng trống, không gian xanh mở rộng lớn, dành cho sinh hoạt cộng đồng và dịch vụ công cộng.
Những luận điểm và giải pháp trên có thể là hợp lý ỏ xã hội công nghiệp thòi kỳ đầu, nhưng đến giai đoạn hậu công nghiệp – tiền thqng tin như hiện nay đã bộc lộ những bất cập và tính khô cứng, ý chí và ảo tưởng cần được vận
dụng mềm dẻo và có mức độ hạn chế, như nhiều nhà xã hội học đô thị đã phê phán, nhất là những minh chứng của c.Alexander trong bài ‘Thành phô’ không phải là cây”. Không vì thế mà tính hệ thông của nhà công cộng mâ’t đi. Ngày nay các công trình công cộng không còn thiên về “đơn năng” mà có xu huống TiSn hợp đá. vị trí và cách tập hợp cũng không hẳn vì bán kính
phục vụ và tầu suất nhu cầu mà phân bố theo tầng bậc. Sang xã hội thông tin khi con người có quỹ thòi gian rảnh rất lớn, có thể làm việc ở bất cứ đâu, có dịch vụ đời sông phục vụ tận nơi… nguyên lý tập hợp phân bố các hệ thông nhà công cộng trong đô thị chắc chắn có nhiều thay đổi lớn và cơ bản, mối có thể đáp ứng được các “thành phô’ – thông tin”, “thành phô’ sinh thái”, “thành phô’ – cực kỹ thuật” như nhiều chuyên gia đã dự báo.