Hệ thống mạng lưới công trình công cộng và nguyên tắc phân bố (P1)

Các nhà công cộng không chỉ có phân loại theo nhóm dựa vào tính chất công năng mà còn được phân cấp theo tầng bậc trong cùng một hệ thông nhóm nhà và được chú ý phân bố đều các công trình theo tầng bậc đó thành một mạng lưới nhằm phục vụ hiệu quả hơn các đôi tượng theo thứ bậc nhu cầu, theo tần suất sử dụng và theo từng vùng ảnh hưởng (h.II.3.1).

Hệ thống mạng lưới công trình công cộng và nguyên tắc phân bố (P1) 1
Chẳng hạn:
♦ Ở các công trình giáo dục
• Cấp I (cấp cơ sở): phục vụ các đôi tượng trong vùng bán kính phục vụ R – 200 -T 400m (nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học…) trong vùng giói hạn thời gian đi bộ từ 5 đến 10 phút nhằm đáp ứng các nhu cầu tự đi bộ đến trường của thiếu nhi, để các bà mẹ đưa đón con thuận lợi an toàn…
• Cấp II (cấp trung gian): bán kính phục vụ R – 500 -T 800m (trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông) , tạo điều kiện các em lứa tuổi thiếu niên tự đến trường thoải mái và an toàn chủ yêu bằng đi bộ, xe đạp trong vòng 10 -r 15 phút.
• Cấp III (cấp trung ương) bán kính phục vụ R – 1000m T 2000m (phục vụ cho quận, liên quận hoặc toàn thành phố) phù hợp với quy mô, nhu cầu quản lý khai thác hợp lý, kinh tế và bảo đảm lứa tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên lui tói không quá xa trong giới hạn 20 – 30 phút đi bộ.
♦  các công trinh y tế
• Cấp I: các phòng khám nhỏ, các trạm y tế, trạm hộ sinh. Bán kính phục vụ R = 300m -r 500m cho đối tượng dân thuộc phạm vi phường, khu phố ở (tuyến 1) và thòi gian lui tối không quá 10 phút đi bộ.
• Cấp II: trong vòng 10 – 12 phút đi bộ, dành cho các phòng khám theo quận, phòng khám đa khoa bệnh viện cấp quận phục vụ nhu cầu liên khu hay nhiều phường (tuyến 2) R = 600 -5- 800m.
• Cấp III: bệnh viện tỉnh hoặc bệnh viện chuyên khoa Trung ương giải quyết những ca bệnh khó, những bệnh đã vào tình trạng hiểm nghèo… (tuyến3).
♦ Ở các công trình thương mại, thương nghiệp
• Cấp I: các cửa hàng thực phẩm và lương thực (gạo, bánh mì, sữa, thuốc đánh răng, xà phòng…) phục vụ nhóm nhà ỏ, phường, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt đời sông của gia đình hàng ngày, hàng tuần.
• Cấp II: các cửa hàng bách hóa; những chợ lớn có mái, những siêu thị với quy mô phục vụ là quận, nhằm đáp ứng cho dân cư những nhu cầu mua sắm có tần suất thuộc diện hàng tháng, hàng quý.
• Cấp III: những trung tâm thương mại lớn, những chợ các loại phục vụ tỉnh (như chợ Đồng Xuân Hà Nội, chợ Lốn Sài Gòn và các cửa hàng bán đồ chuyên dụng (cửa hàng ô tô, xe máy, đồ cưới, đồ gỗ cao cấp…) phục vụ cho hên quận hay toàn thành phô, đáp ứng các nhu cầu họa hoằn vối tần suất thuộc diện hàng năm hay vài ba năm có một lần.
Như vậy các công trình công cộng tùy theo cấp phục vụ mà được phân bô đểu đặn rải khắp từ các nhóm nhà ỏ, khu nhà (có chú ý đến phạm vi ảnh hưởng có lợi, tức bán kính phục vụ) cho tới cấp quận và cao nhất là cho tối cấp thành phố và quốc gia. Nhìn chung càng lên cấp trên tần suất nhu cầu sử dụng của dân càng ít đi, nên ngưòi ta cho phép mở rộng bán kính phục vụ của các công trình đó và tăng giới hạn thời gian đi lại hay thay đổi tương ứng phương tiện vận chuyển (có thể bằng cơ giới). Các công trình cấp III này cần phân bô thê nào để việc đi lại, lui tối bằng phương tiện cơ giói không nên quá một tiếng đồng hồ và được tập hợp khu biệt hình thành từng khu trung tâm công cộng.
Các trung tâm công cộng này lại được hòa nối vối nhau tạo thành mạng lưới đa trung tâm trong các đô thị hiện đại mà hạt nhân của nó thường là các trung tâm giao dịch tài chính – thương mại – dịch vụ tầm cõ ảnh hưởng vùng quốc gia hay quốc tế (CBD). Ở từng cấp độ các công trình như vậy thiíờng được tập hợp để trỏ thành từng quần thể ở các khu trung tâm công ích của phường, của khu vực có chú ý khai thác kết hdp các không gian khoảng trống và cây xanh (không gian công cộng). Các trung tâm công cộng của liên khu, của toàn thành phố thường trỏ thành biểu tượng văn hóa và kinh tế của một đâ’t nước, một dân tộc. Các giải pháp tổ liỢp không gian hình khối có yêu cầu nghệ thuật cao, cần tạo được nét độc đáo cho thành phố hoặc vùng lãnh thổ.