Đặc điểm nhà công cộng

Nghiên cứu đặc điểm nhà công cộng là nhằm đến những khác biệt về tổ chức không gian và đặc thù kết cấu của nhà công cộng so với nhà ở và nhà công nghiệp để có những lưu ý cần thiết cho việc tìm kiếm những giải pháp kiên trúc có hiệu quả.
1- Tính dây truyền rất rõ, nghicm ngặt tạo sự phong phú da dạng của loại hình: mỗi
nhà công cộng thường chỉ là sự đáp ứng xít xao một tính dây chuyền rất đặc thù cửa nhà công cộng, vì thế phải nghiên cứu từ sự tìm hiểu nắm vững công nàng(lập nên những sơ đồ dây chuyển công năng), từ đó lập nên sơ đồ tổ hợp không gian – hình khối đáp ứng đặc thù của công năng đó vói ngôn ngữ, diện mạo riêng phù hợp, tạo tính đa dạng cho hệ thống công trình.
2- Tính “tầng bậc – hệ thống” của nhà công cộng: nlià công cộng không chỉ được tập hợp phân loại theo từng tính chất dựa theo chức năng mà thường trong một nhóm loại hình còn được phân loại theo hệ thông tầng bậc. nghĩa là các công trình công cộng trực thuộc một ngành dọc quản lý (như của Bộ giao thông, Bộ đại học, Bộ y tế…) còn được phân cấp thành những cấp độ từ thấp đến cao như sau:
• Cấp cơ sở: dành cho các công trình gắn liền với nhóm nhà ỏ, tiểu khu (hay phường) với các đôi tượng phục vụ là nhóm người dân nằm trong vùng ảnh hưởng của công trình vối bán kính phục vụ R = 200 -ỉ- 500m, nghĩa là trong ‘vòng đi lại 5 phút đi bộ từ nhà đến công trình.
Ví dụ: các vườn trẻ, nhà trẻ, trường tiểu học, các cửa hàng dịch vụ đời sống hàng ngày như là lương thực, bưu điện, các cửa hàng sửa chữa, các trạm y tê tuyến xã, thôn…
9 Cấp trung gian: bao gồm những công trình phục vụ cho các đối tượng trong vòng bán kính phục vụ R = 800 4- 1200m, như các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học, các cửa hàng bách hóa, trung tâm bưu điện, quỹ tiết kiệm, những loại dịch vụ thỏa mãn nhu cầu không phải hàng ngày mà hàng tháng để hên hệ với công trình chỉ cần 15-20 phút đi bộ.
• Cấp trung ương (thị xã, tỉnh): dành cho các công trình phục vụ dân trong vùng, trong tỉnh.
Ví dụ: bệnh viện tỉnh, nhà văn hóa tỉnh, viện bảo tàng vối bán kính tẩm ảnh hưỏng của nó khoảng R = 2 -T 3km, đi lại độ 15 – 20 phút bằng phương tiện cơ giới.
• Cấp quốc gia (thuộc toàn quốc và vùng lốn bao gồm nhiều tỉnh) để phục vụ toàn dân, toàn quốc, khu vực và quốc tế.
Ví dụ: Nhà quốc hội, ga hàng không, ga xe lửa, trụ sỏ hành chính các bộ.
Cấp độ nhà công cộng không chỉ thể hiện ở tầm ảnh hưởng, bán kính phục vụ, ở tần suất xuất hiện các nhu cầu đời sống mà còn thê hiện ỏ nội dung thành phần các không gian buồng phòng và cấp chất lượng tiện nghi (thành phần phòng hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh).
3- Tính quảng dại quần chúng: nhà công cộng dùng đe phục vụ chủ yêu đông đảo và quảng đại quần chúng, vì vậy khi thiết kế nó cần quan tâm sao cho địa điểm phải thuận tiện cho việc lui tối và tìm kiếm của quần chúng. Người ta hay bcf trí nó dọc theo tuyến giao thông chính, gần các trạm đỗ xe công cộng, cạnh các trung tâm hay lui tới của khu vực hay thành phô (cực hút đô thị); hoặc bố trí ỏ các góc giao lộ đế dễ tìm và đồng thời có khá năng tạo nên những dấu ấn trong thành phố để dễ định hưống cho các du khách; hoặc bố trí quanh các quảng trường thành phô, các vườn hoa và công viên, vì nơi đó thường có các họng xe điện ngầm…. về mặt bằng tổng thể, ỏ các công trình cồng cộng đông người như nhà ga, nhà hát, sân vận động, triển lãm, nhà bách hóa… phải tạo được trưốc nó một quảng trường nhỏ để người ta có thể tụ tập hoặc giải tán đám đông mà không làm cản trở giao thông hay tạo nên sự ách tắc nguy hiểm. Để cứu nguy và phòng chông cháy, khi thiết kế phải đặc biệt quan tâm đến việc sơ tán tốt; các công trình công cộng còn phải bảo đảm để xe cứu thương, cứu hỏa có thê tiếp cận tới tận chân công trình. Nếu công trình đó có sân trong lốn thì xe cứu thương, cứu hỏa còn có thể chạy vào tận trong sân. về nội thất, việc tổ chức không gian bô” trí chỗ ngồi phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, tổ chức thoát người an toàn. Đám đông thường tạo nên trong nội thất công trình sự ồn ào và mất trật tự cũng như dễ ảnh hưởng đến tầm nhìn của nhau, đặc biệt là trong các phòng biếu diễn văn hóa, thể thao, nghệ thuật. Vì vậy tính quần chúng còn đòi hỏi phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề nhìn rõ, nghe rõ và tốt cho không gian phòng khán giả, phải chú ý ctếp việc thiết kế nền dốc, đến cách âm chông ồn và trang bị kỹ thuật âm thanh để bảo đảm chất lượng nghe tốt cho khán giả đông đảo.
4- Yêu cầu nghệ thuật kiến trúc cao: so với nhà ở và nhà công nghiệp thì nhà công cộng phần lớn có yêu cầu rất cao về mặt hình tượng nghệ thuật. Các công trĩnh công cộng loại đặc biệt thường được xem như các tủ kính của một thành phố, của một quốc gia: thông qua đó du khách thấy được sự phồn vinh, chất lượng cuộc sổiig, tính tư tưởng và thị hiếu nghệ thuật của một dân tộc, một đâ’t nước. Vì thế thiết kế các loại công trình này về mặt hình khối bên ngoài, về hình tượng nghệ thuật kiến trúc phải được đặc biệt xử lý vấn đề chất lượng nghệ thuật kiến trúc cao đe kiên trúc vừa tiên tiến hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong các phòng lớn việc tổ chức không gian nội thất cũng đòi hỏi người kiến trúc phải quan tâm đúng mức đến việc trang trí và tạo sức hấp dẫn cho không gian này.
Thường nội thất của nhà công cộng được bô’ trí sang trọng lộng lẫy đầy hấp dẫn, vừa phong phú chi tiết, vừa tạo được ấn tượng thẩm mỹ đẹp, độc đáo thông qua các mảng chất liệu, các mảng màu sắc và các hiệu quả vể ánh sáng.
5- Hệ thống không gian – kết cáu phong phú da dạng: khác vối nhà ở mà không gian kiến trúc chỉ toàn là những phòng ốc nhỏ xinh xắn, cồn ở các nhà công nghiệp thường chỉ phổ biến vối những không gian nhà xưởng rộng lớn đơn điệu và khô khan trông trải thì nhà công cộng lại bao gồm một hệ thông không gian phức hợp gồm những phòng ô’c nhỏ (với diện tích s < 20m2 và cao H < 3, 3m) các gian trung bình (thường có s = 40 * 80m2, H – 3,6 -T 3,9m) kết liỢp vối các không gian vừa và lớn (thông thường có s > 300m2, H > 6m). Nhà công cộng thường là một hệ thông chuỗi không gian phong phú phức hợp, đan xen cùng thống nhất trong một hệ kêt cấu. Hệ kết cấu thường lại là các dạng khung chịu lực kết hợp vối các dạng mái có khẩu độ lớn. Khung chịu lực trong nhà công cộng thường có những lưới cột mang khẩu độ lớn từ 6 đến 9m. Việc ngăn che không gian của nhà công cộng thưòng là những vách nhẹ, vách treo di động. Các không gian lớn của nhà công cộng để bảo đảm yêu cầu nhìn rõ thường không bao giò có cột chống trung gian ở giữa phòng. Muôn vậy các phòng này thường được phủ lợp bằng những kết cấu mái nhẹ, nhịp lớn, những kết cấu không gian tiên tiến, hiện đại (như dàn không gian, hệ thống mái treo). Các bao lơn, ban công khán giả cũng vậy, được cấu tạo theo kiểu dầm côngxôn có thể vươn ra từ 4 đến 6m mà không cần cột chống gây được ấn tượng lạ lùng, mới mẻ đầy sức truvền cảm cấu trúc.
6- Tính sớm lỗi thời: công năng nhà công cộng thường thay đổi rất nhanh cùng vối thòi gian do các ảnh hưởng tác động trực tiêp của khoa học kỹ thuật tiến bộ (làm cho công năng dễ lỗi thời), vì vậy khi thiết kế nó người ta có xu thế thiết kế kiểu vạn năng (vối các không gian kiến trúc linh hoạt, mềm dẻo, dễ thay đổi), hay thiết kế liên hợp đa năng (tổ hợp nhiều công năng trong cùng một ngôi nhà) để công trình đó không sớm bị lỗi thời và tiết kiệm thời gian trong khai thác sử dụng.
Khi thiết kế một công trình công cộng, người thiết kê vì thê cần phải nắm được công trình đó thuộc nhóm loại nào, phục vụ cho cấp đổi tượng nào, đặc biệt là đặc thù khai thác sử dụng để xác định vị trí thích hợp; để tổ chức các không gian buồng phòng một cách hợp lý với quan hệ dây chuyền thích ứng; để sử dụng vật liệu quý hiếm ở mức độ cho phép và quy định mức VÔ11 đầu tư một cách thỏa đáng mang lại hiệu quả kinh tê – xã hội cao.