Cơ sở về xã hội nhân văn trong thiết kế nhà ở hiện đại (P1)

Ngôi nhà ở thường phản ánh rõ nét những tiến bộ của đời sống kinli tế và văn lióa, những đặc thù lối sống của gia đình. Muôh thiết kế tốt không chỉ căn cứ trên sự phân tích “duy lý – công năng” mà còn cần được xem xét dưới khía cạnh “Mô hình văn hóa”.
Đặc điểm vể dân số
Đặc điểm về dân sô được thể hiện ở cấu trúc tháp tuổi của một dân tộc, một đất nước. Dựa vào tháp tuổi, chúng ta có thể thấy rõ được đặc thù dân số. Tháp tuổi phản ánh rõ nét tình trạng xã hội về mặt kinh tê xã hội, đời sống của một đất nưóc.
Qua tháp tuổi ta có thể có những dự báo về kinh tế, những tính toán về quỹ nhà ở cho thích hợp.
Ví dụ: Trong một tháp tuổi của một quốc gia có sô’ người trong độ tuổi lao
động cao thì chúng ta cần dự trù nhiều nhà ở gia đình, nhiều nhà máy, xí nghiệp, ký túc xá… Có nghĩa là chính tháp tuổi đã nói rõ loại hình nhà ở dành cho thể loại nào có nhu cầu nhiều hay ít, qua đó chúng ta có thể dự báo được các loại hình nhà ở cần thiết.
Trong đặc điểm về dân sô’ chúng ta còn quan tâm đến mức độ sinh đẻ của dân cư.
Tỷ lệ sinh đẻ: Ở Việt Nam : 2,5 – 3% và đang có xu thế giảm.
Ở Anh, Mỹ : dưới 1%
Tỷ lẹ Láng dân số = tỷ lệ sinh – tỷ lệ tử.
Tỷ lệ tử và sinh chính là phụ thuộc vào hiệu quả công tác bảo hiểm y tế xã hội và cải thiện đòi sống cho nên qua đó chúng ta cũng có thế dự báo được các công trình thuộc lĩnh vực nào là quan trọng và có như vậy thì kinh tê xã hội của đất nước mối có thể phát triển lên được. Nhà ở Việt Nam trong tương lai chỉ có thể giải quyết tốt vói điều kiện giảm được tỷ lệ phát triển dân sô xuông mức 1.6-1,7% và tăng mức thu nhập GDP bình quân đầu người ngang các nước phát triển (trên 1000 USD).

Đặc dỉểm về cấu trúc gia đình
Đốì tượng phục vụ nhà ở chính là gia đình, chính vì vậy cấu trúc nhà ở cần được thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu đa dạng, phong phú về các kiểu loại gia đình khác nhau. Người kiến trúc sư cần nắm được các loại gia đình có sự khác biệt về thành phần, nghề nghiệp, học vấn của nhân khẩu, vể sô lượng thành viên trong gia đình, sô’ lượng các thê hệ lứa tuổi, tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình…
Nắm bắt được những vấn đề này, chúng ta mới có thể dự kiến đitợc các diện tích không gian buồng phòng, dự kiến được mối quan hệ giữa các loại hoạt
động trong gia đình đó. Đặc biệt cần thiết khi nghiên cứu thiết kế các chung cư, vì mảng này không có ông chủ tương lai rõ ràng với đơn đặt hàng cụ thể cho các kiêu trúc sư.
4- Quy mô nhân khẩu của gia đình
Có nghĩa là ta phải xác định quy mô nhân khẩu của gia đình trung bình tại địa điểm mà ta thiết kế xây dựng. Biết được chỉ số này mới có thể tính toán được tiêu chuẩn diện tích ở cho một đầu người và diện tích cư trú hợp lý cho các loại quy mô gia đình theo nhân khẩu.
Ở Việt Nam (vào những năm 90 thê kỷ XX):
• Miền Bắc: Thành phô”: TB: 4-5 người/ gia đình.
Nông thôn: TB: 6 – 6,5 người/ gia đình.
• Miền Nam: Thành phô: TB: 5-6 người/ gia đình.
Nông thôn: TB: 6-7 người/ gia đình.
So sánh vối một sô” nước:
Liên Xô (củ): TB: 2,3 – 3 ngưòi/ gia đình.
Anh: TB: 1.8-2 người/ gia đình.
♦ Tỷ lệ các loại quy mô gia đình khác nhau
Thông thường quy 1UÔ gia đình được chia ra:
• Gia đình nhỏ: 1-2 người (Hà Nội khoảng 20 – 25%).
• Trung bình : 3-6 người (Hà Nội khoảng 65 – 70%)
• Lớn: 7-8 người (Hà Nội khoảng 10%).
• Cực lốn: bằng và hơn 9 người (Hà Nội khoảng 5%).
Thông thường thì các loại gia đình ở nông thôn có hơi khác ở thành phố. Cụ thể:
• Trung bình chiếm: 60 – 65%.
• Nhỏ: 10 – 15%.
• Còn lại: 20 – 30%.
+ Tỷ lệ các loại gia đình
về mặt đặc thù phát triển và quan hệ giữa các thành viên thì gia đình được chia ra các loại như sau:
• Gia đinh hạt nhân (gia đình đơn giản) gồm:
– Gia đình hạt nhân một thế hệ: gồm chỉ có cặp vợ chồng tức hạt
nhân của gia đình
– Gia đình hạt nhân có hai thế hệ: gồm có bô mẹ và con cái.
Khi gia đình hạt nhân có đủ cả hai vợ chồng được xem là hoàn chỉnh. Khi chỉ còn một thành viên cùa hạt nhân gia đình thì xem là gia đình hạt nhân không hoàn chỉnh. Các thành viên thường là có quan hệ máu mủ, trực hệ.
• Gia đình phức tạp: là loại gia đình có các thành viên thuộc hai đến ba thê hệ hoặc không trực hệ, nhiều dòng máu liuyết thông. Ở Việt Nam cũng chỉ chiếm 15 – 16% theo các điều tra của tác giả.
Ngoài ra còn có thể chia gia đình thành ba thời kỳ trong một chu trình sống của 11Ó (Việt Nam khoảng 38 -s- 42 năm).
• Gia đình phát triển: (khoảng 14 -ỉ- 15 năm) trải qua hai giai đoạn
– Giai đoạn phát sinh (tạo lập gia đình).
– Giai đoạn đang phát triển (sinh con đẻ cái).
• Gia đình ổn định: (khoảng 16 T 17 năm) được đánh giá bằng các chỉ tiêu
– Vợ sang tuổi 36 hoặc chồng trên tuổi 60 tuổi.
– Các con còn chưa đến tuổi kết hôn.
• Gia đình tàn lụi: (khoảng 10 -ỉ- 12 năm) được tính khi
– Bô hoặc mẹ bưốc sang tuổi thọ trung bình của đất nước (nam 65, nữ 69).
– Căn cứ vào tuổi kết hôn của con cái (nam 28, nữ 23).
– Căn cứ vào tuổi thoát ly gia đình của thanh niên (tuổi đi bộ đội, bước vào ký túc xá của công nhân hay sinh viên).