Cơ sở về văn hóa truyền thống trong thiết kế nhà hiện đại (p2)

Một lối sống để cao tính cộng đồng trong đó vị thế và nhãn cách cá nhân phụ thuộc chật chẽ vào tập thể gia đình và làng xóm
Thiên nhiên khắc nghiệt với bao yếu tô’ bất ngờ luôn xảy ra buộc con người phải cô’ kết lại với nhau để khắc phục hậu quả của 1XÓ là lũ lụt, hạn hán, mất mùa, đói kém… Nhu cầu tương trợ những lúc này rất lốn và cấp bách. Thêm vào đó, trong cả cuộc đòi mình, từng người nông dàn phải lo hàng loạt công việc lốn như làm nhà, cưới xin, tang ma, khát vọng, đòi hỏi một lượng tiền của rất lốn mà với mức thu nhập kém hàng năm, từng hộ nông dân không đủ sức để lo trong một lúc – dù chỉ một công việc thôi, mà phải nhò sự giúp đỡ của những người khác trong cộng đồng.
Sau nữq, còn chính do những đặc điểm “làng – họ” mà mỗi làng Việt – nơi cộng cư của những người nông dân – là cộng đồng của nhiều môi quan hệ: cộng đồng về địa vực (từng làng có ranh giới lãnh thổ riêng) cộng đồng về kinh tê’ và cơ sở hạ tầng (làng có chung ngành nghề và bí quyết nghề, chung một sô’ ruộng đất công, chung đường làng, ngõ, giếng nưốc, đình, chùa, miếu mạo), cộng đồng về cơ cấu tổ chức: từng làng có một kiểu cơ cấu tổ chức riêng, song nhìn chung các làng đều có các thiết chê cộng đồng về địa vực (ngõ xóm), huyết thông (gia đình và dòng họ) về lớp tuổi (phe giáp), về bộ máy hành chính (hội đồng kỳ mục và chức dịch), vể các quan hệ tự nguyện theo nghề nghiệp (phường hội), theo mục đích tương trợ (hội, họ), về quan hệ theo “đẳng cấp” tức vị thứ trong làng, theo quan viên hay bạch đinh…
Vậy biểu hiện cụ thể của lối sống cộng đồng của người nông dân là:
♦ Quan tâm giúp đỡ người khác, coi trọng tìnli làng nghĩa xóm, đề cao tinh thần đoàn kết và cô’ kết làng xã, coi trọng sự giao tiếp và tinh thần hiêu khách cao.
Sông trong làng xã, trong điều kiện vật chất rất chật hẹp và trong bôi cảnh xã hội đầy áp bức bóc lột, người nông dân vẫn cảm thấy được nâng đỡ rất nhiều bởi “tình làng nghĩa xóm” của những người cùng sông. Ỏ hầu
hết các làng xã có quy định ghi trong hương ưóc, khuyên răn mọi người ăn ở hòa thuận theo đúng đạo hiếu gia đình, nghĩa tình làng xóm, khuyến khích mọi người giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn hoặc khi có công việc lớn như cưới xin, tang ma, làm nhà. Cũng VI thế mọi gia đình trong cùng một cộng đồng sống hài hòa, cởi mở, hiếu khách, thăm viếng nhau thường xuyên, “tối lửa tắt đèn có nhau”, “lá lành đùm lá rách”. Trong không gian cư trú của họ đời sống gia đình không chỉ bó kín trong ngôi nhà đằng sau cánh cổng và rào giậu mà còn diễn ra thường xuyên trên các không gian cộng đồng như ngõ xóm, đường làng, đưối bóng mát xum xuê của cây đa cổng làng, trong vườn chùa, sân đình, tại quán nghỉ giữa đồng, bến nước hay giếng làng, tại các phiên chợ quê, vào những ngày hội lễ và cả trong đời thương hàng ngày… trên sân vườn nhà nhau, trên không gian công cộng của sinh hoạt văn hóa và sản xu at.
♦ • Chú trọng giữ gìn vị tliê và nhân cách cá nhân và nhân cách cộng đồng.
Với một hệ thống các thiết chế tổ chức đa dạng và những quy định, trách nhiệm của các cá nhân đối vói cộng đồng được cụ thể hóa trong hương Itốc, cùng vối quan niệm về đạo đức truyền thống và sức ép nghiêm khắc của dư luận làng xã đã tạo ra một thê và lực của cộng đồng đổi vối các cá nhân làm cho cá nhân phải phụ thuộc chặt chẽ vào làng. Tài năng tính cách và nhân cách của từng người không thể vượt trội khỏi số phận và nhân cách của cộng đồng và phải phụ thuộc, phục vụ cộng đồng: “xấu đểu hơn tốt lỏi”, “khôn luống, sống đàn”. Cá tính, tài năng, quyền tự do của mỗi con người nhìn chung không được coi trọng mà phải hướng vào giá trị cộng đồng và phải phục vụ cộng đồng. Trong nghệ thuật đặc biệt ở kiến trúc người ta tìm cái đẹp ở sự cân đối, hài hòa, sự chừng mực. không lía sự chơi trội, độc đáo kỳ dị thái quá…
Một lối Sống coi trọng và đề cao cái tâm, chữ tín và đạo hỉếu, lễ nghĩa
Một trong những điểm nổi bật trong “văn hóa làng” cũng chính là “lối sông của làng xã” của người Việt Nam là cách ứng xử giữa cá nhân vối cá nhân, cá nhân vói tổ chức trong làng xã mà từng người tham gia là trên cơ sử lòng tin vói nhau, nên trong hầu hết các trường hợp không cần giao kèo khê ưốc.
Do vậy, trong làng xã người ta cọi trọng chữ tín, chỉ cần làm mất lòng tin với nhau là quan hệ giữa hai người dễ bị rạn nứt “một sự bất tín, vạn sự bất tin”.
Bất hiếu, bất mục là điều hổ thẹn nhất vì bị dư luận lên án gay gắt nhất. Tình cảm gia đình của con người Việt Nam rất bền chặt, trong đó sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái là nổi trội nhất, đặc biệt là lòng hiêu thảo và tình mẫu tử. Từ cuối thể kỷ trước, một học giả Pháp đến Việt Nam đã nhận xét: “Có thể người ta không tìm thấy ở bất cứ dân tộc nào trên trái đất này sự gắn bó hoàn hảo trong gia đình, một tình cảm sâu sắc như ở dân tộc An Nam” (Theo Nguyễn Thừa Hỷ). Vì đặc tính này mà kiến trúc hướng nội, thiên về cái đẹp nội dung, bên trong không gian hơn hình thức và khôi bên ngoài.
Nếu trong gia đình (mở rộng ra là dòng họ), hiếu đễ là tình cảm, đạo đức quan trọng nhất thì ở ngoài gia đình (trong và ngoài làng xã), người Việt Nam đề cao coi trọng lễ, nghĩa và lòng nhân đức; được biểu hiện cụ thể ở một loạt đức tính như lòng trung thực, sự thủv chung, tính nhường nhịn, lòng nhân nghĩa, tính hiền hòa vị tha. thái độ khoan dung, kín đáo, tê nhị đến mức thâm thúy.
Dân tộc ta có truyền thống trân trọng những anh hùng trong lịch sử. Nhân dân suy tôn tưởng nhớ, đặc biệt còn lập đền thờ, tổ chức các lễ hội tưởng niệm. Các ngày giỗ được tổ chức trang nghiêm, trọng thể có dâng cỗ cúng cơm. Trong phạm vi gia đình cũng thế. Đối với ông bà, cha mẹ đã mất thế nào trong ngày giỗ cũng có mâm cơm, có vái khấn, cầu mong hết sức thành tâm. Ỏ đây chắc có ý niệm vể mổì quan hệ mật thiết giữa người chết và người sống, có cái thiêng liêng và cái trần thê như các nhà xã hội học thường bàn tối.
Sự hiện diện thường xuyên bàn thờ tổ tiên ở nơi trang trọng mà ấm cúng trong không gian ở của một gia đinh Việt Nam, cũng như không gian cư trú của cộng đồng gắn bó hài hòa vối không gian tín ngưỡng tôn giáo tôn nghiêm mà gần gũi,phải được xem là biểu hiện quan trọng của lôi sông và mô hình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.