Chức năng và yêu cầu của kiến trúc (P2)

Để bảo đảm yêu cầu tiện nghi người kiến trúc sư cần chú ý những điều kiện sau:
1. Chọn hình thức kích thước các không gian phòng ốc hợp lý, thỏa mãn các yêu cầu của sinh hoạt, của công năng; sau đó nghiên cứu mối quan hệ giữa các không gian đó tìm ra những khả năng đáp ứng tối đa và khả thi nhằm tạo được những sinh

hoạt có liên hệ dây chuyển rõ ràng, ngắn gọn, rành mạch, bảo đảm sự thuận tiện và tính kinh tế không gian – thời gian (nghiên cứu sơ đồ công năng).
2. Tổ chức tiện nghi và điều kiện vệ sinh môi trường vi khí hậu cho các không gian như sắp xếp hợp lý máy móc, đồ đạc thiết bị, hướng lấy ánh sáng, điều kiện ánh sáng nhân tạo và tự nhiên, chế độ ẩm nhiệt của phòng, điều kiện thông thoáng, an toàn vận hành v.v…
3. Chọn giải pháp tổ hợp không gian hình khối đáp ứng sơ đồ công nãng và đặc điểm khu đất xây dựng để công trình vừa hòa nhập với khung cảnh xây dựng vừa thỏa mãn dây chuyền công năng.
Yêu cầu thích dụng được đánh giá căn cứ trên các chỉ tiêu về chất lượng sủ dụng được quy định thích ứng với từng loại nhà và cấp nhà (tham khảo Luật Xây dựng và Quy chuẩn xây dựng Việt Nam).
II.. Yêu cầu bền vững
Công trình xây dựng phải bền vững để bảo đảm an toàn khai thác sử dụng. Bền vững trước tiên đòi hỏi ngôi nhà có khả năng gánh chịu được sức nặng không những của bản thân nó mà cả các lực tác dụng từ bên ngoài như trọng lượng các thiết bị, đồ đạc của người sử dụng, tác động của lực gió xô ngang, của lực phát sinh do động đất, do lún nhà không đều… trong suốt thời gian khai thác. Sau đó là khả năng chống đỡ sự xâm thực phá hoại của môi trường. Bảo đảm bền vững cho công trình kiến trúc không đơn thuần chỉ vì mục đích an toàn của con người sống bên trong nó, đang sử dụng nó mà còn vì hiệu quả kinh tế xã hội bởi vì công trình kiến trúc muôn thành hiện thực phải cần tiêu tốn một khối lượng lớn của cải vật chất của xã hội (thời gian, công sức, tiền của, vật liệu). Kiến trúc mà không bền vững cũng không có lý do tồn tại, là sự lãng phí lớn.
Yêu cầu bền vững của công trình bao hàm độ bền của cấu kiện (bộ phận chịu lực), độ ổn định của kết cấu và độ bền lâu của công trình.
+ Độ bên của cấu kiện là khả năng của từng bộ phận chịu đựng được tác động của các loại tải trọng tĩnh (trọng lượng bản thân), tải trọng động (người, thiết bị, gió…) mà không bị phá hỏng, bị phát sinh những biến dạng quá lớn ngoài phạm vi cho phép. Độ bền này được bảo đảm bằng tính chất cơ lý của vật liệu chế tạo, bằng sự chọn lựa kích thước tiết diện của cấu kiện phù hợp với chức năng làm việc của nó.
+ Độ ổn định của kết cấu hay của toàn hệ thống kết cấu là khả nãng của từng bộ phận kết cấu hay hệ thống chung của chúng chống lại được tác động của các lực xô ngang, lực xoắn, oằn hay các biến dạng lớn trong quá trình sử dụng mà không làm hư hại công trình, không tạo cho ngôi nhà hay cấu kiện những điều kiện làm việc nguy hiểm, bất lợi, không an toàn. Độ ổn định này được bảo đảm bằng cách chọn kích thước tiết diện của cấu kiện tương ứng với độ dài tính toán của nó (bảo đảm độ

thanh mảnh cho phép) và các liên kết mối nối giữa chúng với nhau và với nền móng (độ vững cứng của hệ kết cấu).
+ Độ bền lâu cùa công trình là khả năng tính bằng thời gian (thường là năm) mà các kết cấu chịu lực chính của nhà cũng như toàn hệ kết cấu (còn gọi là sườn chịu lực) của nhà vẫn giữ được những điều kiện làm việc an toàn, tính cho đến lúc không thể cho phép kéo dài thời hạn sử dụng được nữa, khoảng thời gian “sử dụng cho phép” đó gọi là “tuổi thọ” của công trình.
Vì xây dựng công trình kiến trúc nhìn chung đòi hỏi một chi phí rất lớn sức người, sức của và thời gian của xã hội cho nên nhằm mục đích bảo đảm công trình được sử dụng khai thác có hiệu quả kinh tế, người ta đòi hỏi công trình phải tồn tại được một thời gian nhất định kể từ lúc đưa vào sử dụng – khai thác. Thời gian này được gọi là “niên hạn sử dụng” của công trình sẽ được quy định rõ trong khi phân cấp nhà dân dụng.
Độ bền lâu hay “tuổi thọ” công trình cần phù hợp với “niên hạn sử dụng” quy định: Nếu để cho công trình có tuổi thọ nhỏ hơn niên hạn quy định rõ ràng là không kinh tế vì đã lãng phí, nhưng nếu để công trình sống quá lâu so với niên hạn cũng không tốt vì thường đã bị xuống cấp, công nghệ đã lỗi thời, thiếu an toàn, tiện nghi không đáp ứng nhu cầu mới, những năm kéo dài quá này thường rất tốn kém mà không hiệu quả vì phải luôn bảo dưỡng và cải tạo nâng cấp.
Độ bền lâu hay tuổi thọ công trình phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính cơ lý của vật liệu xây dựng, đặc biệt vào biện pháp bảo vệ cho cấu kiện, các mối liên kết chịu lực giữa các cấu kiện chống lại hiệu quả với các ảnh hưởng phá hoại hay xâm thực của môi trường (như mối, mọt, mục, gỉ, ăn mòn, gặm nhấm…) với các điều kiện làm việc không bình thường của công trình (lực trùng phục tức quá trình chất tải không liên tục gây hiện tượng mỏi trong kết cấu, lực chấn động…). Độ bền lâu là một chỉ tiêu quan trọng trong phân cấp của loại nhà dân dụng.
Chúng ta đang sống trong xã hội hậu công nghiệp và tiền thông tin, việc khai thác tận dụng quá đáng nguồn nguyên liệu, việc làm ô nhiễm môi trường và phá hoại cân bằng sinh thái đang đòi hỏi các nhà kiến trúc – xây dựng phải mở rộng khái niệm bền vững sang tầm vĩ mô và toàn cầu.
Ở đây kiến trúc không còn ý nghĩa đơn năng và để bảo đảm sự phát triển bền vững cho đô thị, cho vùng trong đó có từng công trình, chúng ta, các kiến trúc sư có nghĩa vụ:
– Thiết kế những vung định cư bảo đảm cho sự cân bằng giữa các chức năng kinh tế, vãn hóa xã hội, sự cân bằng sinh thái khu vực.
– Kiến trúc nhà cửa tiết kiệm vật liệu và năng lượng có khả năng tồn tại lâu dài.
– Thiết kế nhà cửa, thành phô’ tốt về mặt môi trường: vô hại và lành mạnh đối với sự phát triển vật chất và tinh thần cho con người.

– Tác động tích cực cho sự phục hổi môi sinh và tái sinh vật liệu.
– Phát triển nền vãn minh nhân loại song song với việc bảo tồn và nâng cao các giá trị truyền thống, di sản vãn hóa góp phần cải tạo mối quan hệ qua lại giữa thiên nhiên con người và mạng lưới cấu trúc đó thị.
– Tùy hoàn cảnh mà ứng dụng toàn bộ những vật liệu và công nghệ từ “thô sơ” đến “thông minh”, luôn luôn hướng tới sáng tạo những giá trị nhân văn, sinh thái và vãn hóa cao cho nhân loại.
– Tích cực làm việc vì sự phát triển các công nghệ mới.
Đây cũng là nội dung khuyến cáo và kêu gọi của Viện hàn lâm kiến trúc quốc tế trong Hiến chương chân trời năm 2000.