Các yêu cầu tâm lý – sinh học của không gian ở

Vì nhà ở là một không gian kiến trúc phục vụ độc lập theo sở thích cho sinh hoạt từng gia đình, vì vậy tổ chức không gian cần phải bảo đảm tính chất hài hòa của quan hệ dây chuyển: vừa chặt chẽ, khép kín, đáp ứng đitợc tính hợp lý công năng, bảo đảm cho mọi sinh hoạt, vừa có tính độc lập đồng thời phải thỏa mãn tính thẩm mỹ đáp ứng thị hiếu gia chủ.
Vì đây là nơi nghỉ ngơi tổ ấm của con người sau một ngày làm việc mệt mỏi vất vả ngoài xã hội nên ngôi nhà cần phải bảo đảm các yêu cầu sau:
• Bảo đảm sự kín đáo, riêng tư cho sinh hoạt gia đình, cho từng thành viên của 11Ó.
• Bảo đảm sự an toàn, chông được mọi sự xâm nhập quá dễ dàng của người lạ và chông được tác động xấu của khí hậu (nóng, lạnh, quá nhiều gió, mưa tạt…) của sự bất trắc (các tình thế nguy hiểm).
• Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường. Phòng cần thông thoáng, không quá nhiều đồ đạc, có không khí tươi, có gió trời, ánh nắng… và độ ồn thích hợp.
Nhà còn đòi hỏpphải có đủ các điều kiện vể môi trường trong lành, vệ sinh để con người với tư cách là một sinh vật có thể phát triển lành mạnh, hài hòa.
• Pliải đủ lượng tối thiểu không khí trong lành bảo đảm con người hoạt động hay nghỉ ngơi bình thường, an toàn cho sức khoẻ.
– Người lớn:
Khi ngủ cần 0,012m3 khí ôxy (02)/h, thải ra 0,015m3 khí cacbonic (C02)/h.
Khi lao động cần 0,03m3 khí ôxy (02)/h, thải ra 0,04 khí cacbonnic (C02)/h, 58g hơi nước/h.
Khi nghỉ ngơi cần 0,015m:i khí ôxy (02), thải ra 0,0167m3 khí cacbonic (C02)/h, 40g hơi nước/h.
Do đó phòng ngủ cá nhân phải có đủ không khí tươi để có thể sử dụng bình thường nếu như phòng đóng cửa. Nếu ở điểu kiện phòng kín tuyệt đối, không gian phòng tối thiểu cần bảo đảm một khối tích không khí:
– Người lớn: 32m3 không khí.
– Trẻ con: lõm3 không khí.
Do các cửa đi, cửa sổ không tuyệt đối kín nên chỉ tiêu có thể giảm còn 24 và 12m3.
Vì chiều cao của phòng ngủ kinh tế xấp xỉ bằng 2500mm. Suy ra: diện tích của phòng ngủ cá nhân tôi tliiểu cần lớn hơn hoặc bằng 6m2 (theo TCVN) hay 9m2 (Tiêu chuẩn nhiều nước).
• Phòng ngủ phải được che nắng chông chói, có nhiệt độ thích nghi để tạo điều kiện bổc hơi toả nhiệt ở da người thuận lợi gây cảm giác mát mẻ, phải có ánh sáng mặt trời để diệt trùng; phòng còn phải thông thoáng gió tự nhiên, chống đitợc khí độc làm ô nhiễm không khí trong phòng. Người lốn 1 giờ thải ra một lượng lidi nước 40g (ngủ) 58g (lao động) và 32g (nghỉ ngơi) và lượng thán khí (C02) đáng kể, do đó không khí trong phòng cần được luôn luôn đổi mới.
• Ngoài ra, để phát triển tâm sinh lý con người một cách tốt nhất thì không gian kiến trúc cũng cần phải bảo đảm không tạo ra ức chê căng thẳng thần kinh và tâm lý khó chịu.
Ví dụ: Độ cao của phòng vừa phải từ 2800-3800mm là tốt nhất.
Phòng nên có cửa sổ, ban công, lôgia để con người tiếp cận được vối thiên nhiên một cách dễ dàng và trực tiếp.
Màu sắc không gian phòng ốc cần tươi vui đem lại tâm lý hoặc sảng khoái sông động cho con người hoạt động,hoặc êm dịu để tạo tâm lý yên ổn, thư giãn khi họ muôn mơ mộng, nghỉ ngơi, tìm giấc ngủ sâu…
Tóm lại gia đình là tế bào của xã hội, các tế bào gia đình lại vốn rất đa dạng và phong phú. Vì thế, khi thiết kế nhà ở cần đáp ứng được tính đa dạng của cá nhân và gia đình trên nguyên tắc cố gắng để từng căn hộ gia đình đáp ứng được đặc thù về nghề nghiệp, quy mô, sở thích. Do đó, việc nghiên cứu nhân khẩu, về cấu trúc gia đình, về đặc điểm nghề nghiệp, thu nhập kinh tế của họ, cũng như tâm tư, nguyện vọng của từng tầng lốp, từng lứa tuổi chủ hộ cần được phản ánh bằng sự đa dạng, phong phú trong các kiểu nhà ở.
Các đặc thù về văn hóa lôi sông, tập quán, phong tục… cũng cần được kế thừa phát triển và phản ánh rõ nét trong những căn nhà mới hiện đại. Ngoài những nhu cầu về độc lập khép kín cần quan tâm đến nhu cầu giao lưu, những mối quan hệ cộng đồng, tạo điều kiện để gia đình hòa nhập tốt vối xã hội, đó cũng là nét truyền thống đẹp trong đời sống gia đình người Việt Nam.
Các hoạt động công năng và yêu cầu tâm sinh lý của con người trong nhà ở như đã trình bày ở trên cần được tập liỢp phân khu theo tính chất hoạt động và có thể phân biệt như sau:
• Hoạt động mang tính “đối ngoại” và tập thể: phòng tiếp khách, nơi gặp mặt các người thân, họ hàng, bạn bè, khi gia đình có hiếu hỷ, giỗ chạp…
o Hoạt động mang tính cá nhân: phòng ngủ cha mẹ, con cái, chỗ làm việc, học tập nghiên cứu… (xí tắm riêng cho từng phòng ỏ).
• Hoạt động mang tính tập thể “đối nội” phục vụ chung cho mọi thành viên: bếp, phòng ăn. phòng sum họp, nơi thờ cúng, tắm dùng chung cho toàn gia đình.
• Hoạt động kinh tế tại nơi ỏ: cửa hàng, xưởng gia công, nơi làm nghề mỹ nghệ thủ công nghiệp… vừa đối nội vừa đôi ngoại.