Các phòng phụ trong nhà công cộng (P1)

Các phòng khu cửa vào chính
Bất kỳ một nhà công cộng nào cũng có 1 – 3 cụm cửa vào tùy theo tính chất và quy mô của công trình. Các công trình có công năng đơn giản quy mô nhỏ thường có một cửa vào như nhà Bưu điện ỏ khu ổ, các cửa hàng dịch vụ nhỏ. Nhìn chung các nhà công cộng có hai khu cửa vào: một cửa chính và một cửa phụ. Khu chính thưòng dành cho khách sử dụng hoặc các đối tượng chính của công trình. Khu cửa phụ dành cho bộ phận quản Ịý, quản trị, các dòng hàng hóa, dòng công nhân viên (h.II.4.4). Các công trình lốn đa chức năng, ngoài khu cửa chính, người ta còn làm thêm các sảnh phụ: mỗi công năng, mỗi khu vực có một khu cửa vào riêng.
Ví dụ: Trong bệnh viện, mỗi chuyên khoa có một cổng hoặc sảnh riêng; trong câu lạc bộ có ít nhất hai sảnh: sảnh khu biểu diễn và sảnh khu câu lạc bộ (h.II.2.5).
Khu cửa vào chính một công trình kiến trúc cần có khả năng tiếp nhận và phân phối các dòng người đến các phòng chính của công trình một cách nhanh chóng hay cần ở cạnh các cổng chính ra vào, tiếp xúc trực tiếp với đường phô” hoặc vói quảng trường chính, sảnh vào phải trực tiếp hên hệ được vói cầu thang và hành lang chính. Ngoài ra, khu cửa vào chính thường được thiết kê như một nhân tổ hợp về nghệ thuật kiến trúc vổ bô” cục không gian – hĩnh khối, nhằm tạo ra sức hút mạnh mẽ trôii mặt đứng công trình, đồng thời tạo nên những dấu ấn, điểm nhấn tức những nét đặc điểm nổi bật độc đáo rất cần thiết của nghệ thuật biểu cùm không gian hình khôi, về nguyên tắc, để bảo đảm được các yêu cầu ti ên, khu cửa vào chính phải được đặt ngay trên trục tổ hợp chính, phải có những bộ phận nhô ra hoặc thụt vào so VỚI xung quanh tạo nên được ấn tương mạnh và hiệu quả dấu nhấn. Thông thường ở đó có những mái biên đón vươn rộng hoặc tại đấy cần tạo nên những mảng kính lón tương phản với chi tiết kiến trúc xung quanh, có những thềm tam cấp sang trọng, những đường dốc thoải độc đáo duyên dáng để dẫn ô tô con vào tận cửa, tạo không khí trang nghiêm, long trọng (h.II.2.21).
Một khu cửa vào chính thưòng bao gồm các bộ phận không gian kiến trúc sau:
• Môn sảnh và tiền sảnh.
• Khu vực để áo mũ.
• Chỗ bán vé (nếu là công trình biểu diễn).
• Các phòng gắn liền trực tiếp với sảnh (thường trực, bảo vệ).
• Phòng nhận công văn, giấy tờ, đóng dấu (phòng văn thư)..
• Phòng tiếp khách.
• Phòng gọi điện thoại…
1. Môn sảnh và tiên sảnh (h.ll.2.22)
Môn sảnh là bộ phận không gian đầu tiên khách gặp nếu đi từ ngoài vào, có một mặt tiếp xúc vói tiền sảnh (h.II.2.11).
Môn sảnh làm nhiệm vụ điều hòa môi trường giữa trong nhà và ngoài nhà, tránh cho người sử dụng bị thay đổi đột ngột về điểu kiện nhiệt độ và ánh sáng. Ớ nưốc ngoài thuộc xứ lạnh, môn sảnh thường là phòng nhỏ kín có hệ thổiig điều không và vách lồng kính vây quanh. Ớ các nước xứ nóng, môn
sảnh thường là các hiên trông thoáng, trên có mái che mưa nắng, ôm lấy phía mặt trưốc của tiền sảnh. Môn sảnh thường làm cao hớn cốt nền đất bên ngoài 45 – 60cm (h.II.2.21, h.II.2.23).

Các phòng phụ trong nhà công cộng (P1) 1

Hình ll.2.21

Tiền sảnh là khu không gian chính lán nhất của khu cửa vào. Tuỳ theo tính chất sử dụng mà có thể thiết kế tiền sảnh sâu hay nông, hoành tráng, trang trọng hay phóng túng, bay bướm, chẳng hạn:
• Tiền sảnh sâu: thường ở trường học, bệnh viện (h.II.2.23).
• Tiền sảnh nông: thường ở các công trình biểu diễn (h.II.4.11).
• Những sảnh cho nhà trẻ, trường học cần được tạo dáng bố cục sao cho thân thiết, vừa gần gũi, vừa ấm cúng đối với học sinh. Đối vối các công trình hành chính, cơ quan pháp luật, sảnh cần phải bề thế, trang trọng, nghiêm túc. sảnh của nhà băng (ngân hàng), khách sạn cần sang trọng, lộng lẫy. Ngược lại trong các công trình giải trí, vui chơi của thanh niên, sinh viên sảnh cần phải linh hoạt, nghịch ngỢm, sông động. Hơn nữa sảnh phải có bộ mặt ngoài thật độc đao, gay au UíỢu; , để thu hút người vào, nhấn mạnh trục tổ hợp kiến trúc (h.II.2.21).
Tính cả diện tích cho quầy gửi mũ áo thì ồ những công trình có phòng phục vụ đông đảo quần chúng (sử dụng tập trung vào thòi điểm ngắn) thì s = 0,25 -r 0,35m2 tính cho một chỗ phục vụ trong phòng hay chỗ ngồi trên khán đài; ỏ’ những công trình có các phòng sử dụng không tập trung thì s = 0,15 -r 0,2m2/người (trường học, bệnh viện) (h.II.2.22).
Chiều cao nội thất sảnh không quy định, nhưng thường không dưới 3,6m. Song tùy theo phong cách riêng biệt từng kiến trúc sư mà có thể làm thông tầng hoặc cao 6 – 9m vối nhiều biện pháp lấy ánh sáng tự nhiên từ trên xuống râ”t độc đáo, tạo không gian phong phú và ấn tượng.
Về yêu cầu kiến trúc của tiền sảnh thì đối vổi một không gian làm nhiệm vụ giao hòa trung gian giữa nội thất và ngoại thất nên bảo đảm điều kiện chiếu sáng tự nhiên tốt, có tầm nhìn thoáng, tạo được môi quan hệ chặt chẽ hữu cơ giữa cảnh quan bên ngoài và nội thất bên trong. Từ mục đích đó dẫn đến những mặt sảnh phần tường tiếp giáp vâi bên ngoài, người ta hay xử lý bằng những mảng kính lớn suốt từ sàn lên trần, thậm chí còn dùng thủ thuật tạo nên sự đan xen không gian ngoài và trong, cô” tình kéo thiên nhiên cây cỏ vào sảnh, tạo cảm giác cảnh trí không bị chia cắt, sự thống nhất tự nhiên và hữu tình của tổ chức tiểu cảnh vói đại cảnh bên ngoài.
ở các sảnh mà việc khai thác sử dụng không tập trung vào thời điểm ngắn (tức kiểu sử dụng cao điểm) thì chỉ cần 1 – 2 cửa vào vối chiều rộng mỗi cửa
1,4 – l,8m là đủ; nhưng vổi công trình văn hóa biểu diễn thì phải có hàng loạt cửa mở ra phía ngoài để bảo đảm đông đảo khán giả có thể sử dụng được đồng Uiùi uuíig mọt chói gian ngắn (kiểu tập trung – cao điểm như ở rạp chiêu bóng, nhà hát, công trình thể thao…;.
2. Chỗ gủí mũ áo, chỗ bổn vé
Để bảo đảm đòi sông vàn minh người ta không cho mang áo khoác ngoài, hành lý, mũ nón, áo mưa vào chỗ làm việc và chỗ ngồi xem, bắt buộc mọi người phải để lại ở ngay khu cửa vào. Vì vậy các sảnh công trình hiện đại thường phải bố trí quầy gửi mũ áo (cũng như hành lý) cho khách vào liên hệ công tác hay làm việc. Chỗ gửi mũ áo trong tiền sảnh có thể được tổ chức dưới dạng những quầy gửi dạng hở nằm ngay trong không gian sảnh, quầy đó thường dùng mặt quầy rộng 50cm, cao 90 -r lOOcm.
Cũng có thể chỗ gửi mũ áo được bố trí kín đáo trong một buồng riêng gắn vối sảnh. Phần diện tích dành cho khu vực gửi mũ áo là 0,04 -r 0,lm2/chỗ. Khoảng cách tử quầy gửi đến tường đôl diện không nhỏ hơn 3m. Riêng các công trình văn hóa biểu diễn phải bảo đảm độ dài quầy theo tiêu chuẩn trung bình 50ngưòi/m dài quầy (40 -T 60 người tùy theo loại). Phòng sảnh bình thường chỉ vối 3 -f 4m dài quầy gửi là đủ; phòng sảnh lốn phục vụ từ 800 người trở lên phải có ít nhất 10m dài quầy (h.II.2.22).
Các công trình văn hóa biểu diễn còn phải chú ý đến khu vực bán vé và kiểm soát vé ngay tại khu vực cửa vào. Mỗi cửa bán vé’cần diện tích 1,2 -r l,5m2. Sô’ cửa bán vé phụ thuộc vào sức chứa cửa phòng khán giả: 500 -r 800 chỗ/3 cửa; 800 H- 1500 chỗ/4 cửa, 1500 2000 chỗ/5 cửa và trên 2000 chỗ là 6 cửa; các cửa
bán vé phải cách xa nhau trên l,2m; quầy bán vé thường cao lm; mặt quầy rộng khoảng 30cm; trên quầy là vách kính có lưói thép bảo vệ; cửa bán vé chỉ rộng 30cm, cao 20cm sát vối mặt quầy.
3. Các phòng phụ khác
Gắn với tiền sảnh còn có bộ phận thường trực – bảo vệ vổi diện tích không quá 6mz. Tiếp đó là phòng chờ của khách với diện tích 14 – 24m2. Tùy từng công trình mà tiền sảnh còn phải có khu vệ sinh, phòng điện thoại, phòng tiếp nhận công văn, phòng lnlóng dẫn khách vối diện tích theo yêu cầu cụ thể.